1Bấy giờ, chúng ta trở lại bắt đường Ba-san đi lên. Oùc, vua Ba-san, và cả dân sự người ra đón chúng ta, đặng giao chiến tại Ếch-rê -i.
1"Kemudian kita bergerak ke utara menuju daerah Basan. Og, raja Basan maju dengan seluruh tentaranya untuk memerangi kita dekat kota Edrei.
2Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Ngươi chớ sợ, vì ta đã phó người, cả dân sự và xứ người vào tay ngươi; ngươi sẽ làm cho người như ngươi đã làm cho Si-hôn, vua A-mô-rít, ở tại Hết-bôn.
2Tetapi TUHAN berkata kepada saya, 'Jangan takut kepadanya, Musa. Aku akan menyerahkan dia, tentaranya dan seluruh daerahnya kepadamu. Perlakukanlah dia seperti telah kauperlakukan Sihon, raja Amori yang memerintah di Hesybon.'
3Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng ta cũng có phó vào tay chúng ta Oùc, vua Ba-san, và cả dân sự người; chúng ta có đánh bại người đến chừng không còn lại một ai.
3Jadi TUHAN Allah kita juga menyerahkan Raja Og dan rakyatnya kepada kita, dan mereka semua kita kalahkan.
4Trong lúc đó chúng ta chiếm lấy các thành của người, không có thành nào mà mình không chiếm lấy; tức là sáu mươi cái thành và toàn miền Aït-gốp, là nước của Oùc trong xứ Ba-san.
4Pada waktu itu kita rebut semua kotanya, tidak satu pun yang tertinggal. Semuanya ada enam puluh kota yang kita rebut di seluruh daerah Argob, yang diperintah Raja Og dari Basan.
5Các thành nầy vốn là đồn lũy có vách cao, cửa và cây gài; cũng có lấy những thành không có vách rất nhiều.
5Semua kota itu diperkuat dengan tembok-tembok yang tinggi, pintu-pintu gerbang dan palang-palang pintu untuk menutup gerbang-gerbang itu. Selain itu ada banyak kota lain yang tidak bertembok.
6Chúng ta khấn vái tận diệt các thành nầy, như chúng ta đã làm cho Si-hôn, vua Hết-bôn, tức là khấn vái diệt hết các thành, các người nam, người nữ, và con trẻ.
6Semua kota itu kita hancurkan, dan semua orang lelaki, perempuan dan anak-anak mereka kita bunuh, seperti yang kita lakukan dengan kota-kota Raja Sihon dari Hesybon.
7Nhưng chúng ta chiếm lấy về phần mình hết thảy súc vật và hóa tài của các thành ấy.
7Ternak mereka kita ambil dan kota-kota itu kita rampoki.
8Vậy, trong lúc đó, chúng ta chiếm lấy của hai vua A-mô-rít, xứ bên kia sông Giô-đanh, từ khe Aït-nôn đến núi Hẹt-môn
8Pada waktu itu kita ambil dari kedua raja Amori itu daerah di sebelah timur Sungai Yordan dan Sungai Arnon sampai ke Gunung Hermon.
9(dân Si-đôn gọi núi Hẹt-môn là Si-ri-ôn; còn dân A-mô-rít đặt tên là Sê-ni-rơ);
9(Gunung Hermon disebut Siryon oleh orang Sidon, dan Senir oleh orang Amori.)
10các thành của đồng bằng, toàn Ga-la-át và toàn Ba-san.
10Kita ambil seluruh wilayah Raja Og dari Basan: kota-kotanya di dataran tinggi, daerah Gilead dan Basan, terus ke timur sejauh kota Salkha dan Edrei."
11(Vì về dân tộc Rê-pha-im, chỉ có một mình Oùc, vua Ba-san, còn lại. Nầy, cái giường bằng sắt của người, há chẳng còn tại Ráp-ba, thành của con cháu Am-môn sao? Bề dài giường là chín thước, bề ngang bốn thước, theo thước tay người nam).
11(Raja Og adalah orang Refaim yang terakhir. Peti mayatnya terbuat dari batu, panjangnya empat meter dan lebarnya hampir dua meter menurut ukuran yang ditetapkan. Sampai sekarang masih dapat dilihat di Raba, kota orang Amon.)
12Vậy, trong lúc đó, chúng ta chiếm lấy xứ nầy. Ta cho người Ru-bên và người Gát từ xứ A-rô -e, ở trên khe Aït-nôn và phân nửa núi Ga-la-át, cùng các thành của nó.
12"Sesudah tanah itu menjadi milik kita, saya berikan kepada suku Ruben dan Gad daerah sebelah utara kota Aroer dekat Sungai Arnon, dan sebagian dari daerah pegunungan Gilead, termasuk kota-kotanya.
13Ta cho phân nửa chi phái Ma-na-se phần còn lại của núi Ga-la-át, và toàn Ba-san, nước của Oùc, tức là cả miền Aït-gốp cùng toàn Ba-san vậy. Miền ấy gọi là xứ Rê-pha-im.
13Kepada setengah suku Manasye saya berikan sisa daerah Gilead, juga daerah Basan bekas jajahan Og, yakni seluruh wilayah Argob." (Basan terkenal sebagai negeri orang Refaim.
14Giai-rơ, con trai Ma-na-se, chiếm lấy cả miền Aït-gốp cho đến giới hạn dân Ghê-su-rít và Ma-ca-thít, đặt tên mình cho các thôn xứ Ba-san, là thôn Giai-rơ, đến ngày nay hãy còn.
14Yair dari suku Manasye mengambil seluruh wilayah Argob, yaitu dari Basan sampai perbatasan Gesur dan Maakha. Ia menamai desa-desa itu menurut namanya sendiri, dan sampai sekarang masih terkenal sebagai desa-desa Yair.)
15Ta cũng cho Ma-ki xứ Ga-la-át.
15"Daerah Gilead saya berikan kepada kaum Makhir dari suku Manasye.
16Về người Ru-bên và người Gát, ta cho phần Ga-la-át có ranh ở giữa khe Aït-nôn cho đến khe Gia-bốt, là giới hạn của con cháu Am-môn,
16Dan kepada suku-suku Ruben dan Gad saya berikan daerah antara Gilead dan Sungai Arnon. Tengah sungai itu merupakan perbatasan mereka di sebelah selatan, sedangkan di utara mereka berbatasan dengan Sungai Yabok, yang sebagiannya merupakan batas negeri orang Amon.
17luôn với đồng bằng Giô-đanh, từ Ki-nê-rết tới biển của đồng bằng, tức là Biển mặn, dưới triền núi Phích-ga, về phía đông.
17Di sebelah barat, daerah mereka terbentang sampai ke Sungai Yordan, dari Danau Galilea di utara sampai Laut Mati di sebelah selatan, terus sampai kaki Gunung Pisga di sebelah timur.
18Vả, trong lúc đó, ta truyền lịnh nầy cho các ngươi, mà rằng: Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các ngươi có phó xứ nầy cho các ngươi đặng nhận lấy làm sản nghiệp; hết thảy những chiến sĩ trong các ngươi phải cầm binh khí đi qua trước anh em mình, là dân Y-sơ-ra-ên.
18Pada waktu itu saya memberi kepada mereka perintah ini: TUHAN Allahmu memberikan kepadamu daerah sebelah timur Sungai Yordan untuk tempat tinggalmu. Tetapi prajurit-prajuritmu harus bersenjata dan menyeberangi Sungai Yordan mendahului suku-suku Israel yang lain.
19Chỉ những vợ, con trẻ, và súc vật các ngươi (ta biết rằng các ngươi có nhiều súc vật) sẽ ở lại trong những thành mà ta đã cho các ngươi,
19Hanya anak istrimu serta ternakmu yang banyak boleh tinggal di kota-kota yang sudah saya berikan kepadamu.
20đến chừng nào Ðức Giê-hô-va cho anh em các ngươi sự an nghỉ như mình, và anh em cũng nhận được xứ mà Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các ngươi ban cho họ tại phía bên kia sông Giô-đanh; đoạn mọi người trong các ngươi sẽ trở về sản nghiệp mình mà ta đã ban cho các ngươi.
20Bantulah orang-orang sebangsamu sampai mereka menduduki tanah yang akan diberikan TUHAN Allahmu kepada mereka di sebelah barat Sungai Yordan, dan sampai TUHAN memperkenankan mereka hidup dengan tentram di sana, seperti yang dilakukan-Nya bagimu di sini. Baru sesudah itu kamu boleh kembali ke tanah milikmu yang telah saya berikan kepadamu.
21Ðang lúc ấy, ta cũng truyền lịnh nầy cho Giô-suê mà rằng: Mắt ngươi có thấy mọi điều Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các ngươi đã làm cho hai vua nầy; Ðức Giê-hô-va sẽ làm như vậy cho các nước nào mà ngươi sẽ đi qua.
21Lalu saya berkata kepada Yosua: Engkau telah melihat segala yang dilakukan TUHAN Allahmu terhadap Sihon dan Og, kedua raja itu. Begitu juga Ia akan memperlakukan setiap raja yang kaurebut tanahnya.
22Ðừng sợ các nước đó, vì chính Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các ngươi tranh chiến cho các ngươi.
22Jangan takut kepada mereka, karena TUHAN Allahmu akan berjuang untukmu."
23Trong lúc nầy, ta cầu khẩn cùng Ðức Giê-hô-va mà rằng:
23"Pada waktu itu saya mohon kepada TUHAN:
24Lạy Chúa Giê-hô-va, Chúa đã khởi tỏ cho kẻ tôi tớ Chúa sự oai nghiêm lớn, và cánh tay quyền năng của Chúa; vì trên trời dưới đất há có thần nào làm được việc và công sự quyền năng giống như của Chúa chăng?
24Ya TUHAN Yang Mahatinggi, saya tahu bahwa yang Kautunjukkan kepada saya ini baru merupakan permulaan dari perbuatan-perbuatan-Mu yang besar dan ajaib. Tiada ilah lain di langit maupun di bumi yang seperti Engkau dapat melakukan hal-hal yang hebat.
25Tôi xin Chúa cho phép tôi đi qua xem xứ tốt tươi, núi đẹp đẽ nầy, và Li-ban ở bên kia sông Giô-đanh.
25Izinkanlah saya menyeberangi Sungai Yordan, ya TUHAN, untuk melihat negeri yang subur di seberang, daerah pegunungan yang indah dan Pegunungan Libanon.
26Nhưng Ðức Giê-hô-va, bởi cớ các ngươi, nổi giận cùng ta, không nhận lời ta, bèn phán rằng: Thôi; chớ còn nói về việc nầy cùng ta nữa.
26Tetapi kamu telah menyebabkan TUHAN marah kepada saya sehingga Ia tak mau mengabulkan permohonan saya. Sebaliknya TUHAN berkata, 'Cukuplah, Musa, jangan kausebutkan soal itu lagi!
27Hãy đi lên chót Phích-ga, ngước mắt ngươi lên về hướng tây, hướng bắc, hướng nam, và hướng đông mà nhìn xứ ấy, vì ngươi sẽ không đi ngang qua sông Giô-đanh nầy đâu.
27Pergilah ke puncak Gunung Pisga dan pandanglah ke arah utara dan selatan, ke timur dan ke barat. Perhatikanlah baik-baik apa yang kaulihat itu, sebab engkau tak akan menyeberangi Sungai Yordan.
28Song hãy truyền mạng lịnh cho Giô-suê, làm cho người vững lòng bền chí; vì ấy là người phải đi qua trước mặt dân nầy, khiến chúng nhận lấy xứ mà ngươi sẽ thấy.
28Berilah petunjuk-petunjuk kepada Yosua. Tabahkanlah hatinya, sebab dialah yang akan memimpin bangsa itu ke seberang untuk menduduki negeri yang kaulihat itu.'
29Ấy vậy, chúng ta có ở trong trũng, đối ngang Bết-Phê -o.
29Maka tinggallah kita di lembah di seberang kota Bet-Peor."