1Một ngày kia, Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, nói cùng gã trai trẻ vác binh khí mình, mà rằng: Hè, chúng ta hãy đi qua đồn quân Phi-li-tin, đóng ở phía bên kia. Nhưng người chẳng nói cho cha mình hay.
1Saß jun li cutan laj Jonatán quixye re lix môs li nacßamoc re lix chßîchß li napletic cuiß: —Yoßo. Numeko jun pacßal li nimaß re topletik riqßuineb lix soldâdeb aj filisteo li yôqueb chi cßacßalênc saß li naßajej aßan, chan. Ut laj Jonatán incßaß quixye re laj Saúl lix yucuaß nak tâxic.
2Bấy giờ, Sau-lơ ở tại đầu ranh Ghi-bê-a, dưới cây lựu của Mi-gơ-rôn, còn đạo quân theo người ước chừng sáu trăm người.
2Laj Saúl cuan lix muhebâl chire li tenamit Gabaa rubel jun li nimla cheß granado li cuan saß li naßajej Migrón. Cuakib ciento na li soldados cuanqueb rochben.
3A-hi-gia, con trai A-hi-túp, anh của Y-ca-bốt, con trai Phi-nê-a, cháu Hê-li, mặc áo ê-phót, làm thầy tế lễ tại Si-lô. Dân sự không biết Giô-na-than đi.
3(Laj tij li cuan lix efod chirix, aßan laj Ahías li ralal laj Ahitob. Laj Ahitob, aßan li rîtzßin laj Icabod. Ut laj Icabod, aßan li ralal laj Finees. Laj Finees, aßan li ralal laj Elí laj tij li nacßanjelac chiru li Dios aran Silo.) Mâ ani quinaßoc re nak laj Jonatán cô bar cuanqueb cuiß laj filisteo.
4Ở giữa đèo mà Giô-na-than gắng sức đi đặng đến đồn Phi-li-tin, có một răng đá ở bên nầy, và một răng ở bên kia; cái nầy gọi là Bốt-sết, còn cái kia gọi là Sê-nê.
4Saß xcaß pacßalil li be re Micmas cuan li nînki sakônac. Li jun Boses xcßabaß ut li jun chic Sene xcßabaß. Laj Jonatán tento tânumekß aran re tâxic saß li naßajej cuanqueb cuiß li jun chßûtal chi soldados aj filisteo.
5Một cái răng đá mọc lên về phía bắc, đối ngang Mích-ma, còn cái kia ở tại phía nam, đối ngang Ghê-ba.
5Li sakônac jun cuan saß li norte saß xcaßyabâl li tenamit Micmas. Li jun chic cuan saß li sur saß xcßayabâl li tenamit Gabaa.
6Giô-na-than nói cùng kẻ vác binh khí mình rằng: Hè, chúng ta hãy hãm đồn của những kẻ chẳng chịu cắt bì kia. Hoặc giả Ðức Giê-hô-va sẽ hành sự vì chúng ta chăng; vì Ðức Giê-hô-va khiến cho số ít người được thắng cũng như số đông người vậy.
6Laj Jonatán quixye re li natenkßan re: —Numeko jun pacßal bar cuanqueb cuiß laj filisteo li incßaß nequeßxpâb li Dios. Mâre chan nak li Kâcuaß toxtenkßa xban nak chiru aßan mâcßaß chßaßaj. Li Dios toxtenkßa chi numtâc saß xbêneb, usta nabalo, usta cuibo ajcuiß, chan.
7Kẻ vác binh khí của người thưa rằng: Hãy làm điều ông ước, và đi nơi nào ông muốn; lòng ông dẫn ông đi đâu, tôi sẽ theo đó.
7Ut li cuînk li natenkßan re quixye: —Bânu li cßaßru nacacuaj xbânunquil. Lâin tatintenkßa, chan.
8Giô-na-than tiếp: Nầy, chúng ta hãy đi đến những người ấy, tỏ mình ra cho chúng nó.
8Laj Jonatán quixye re: —Yoßo cuanqueb cuiß ut takacßut kib chiruheb.
9Nếu chúng nó nói: Hãy đợi chúng ta đến cùng các ngươi, thì chúng ta sẽ đứng lại chỗ mình và không lên đến cùng chúng nó.
9Cui eb aßan teßxye ke “Choêroybeni aran. Lâo toxic cuanquex cuiß”, chaßkeb, lâo takoybeniheb ut incßaß toxic cuanqueb cuiß.
10Còn nếu chúng nó nói rằng: Hãy lên đến chúng ta; thì chúng ta sẽ lên; vì Ðức Giê-hô-va đã phó chúng nó vào tay chúng ta: điều đó sẽ dùng làm dấu hiệu cho chúng ta.
10Cui ut eb aßan teßxye nak toxic riqßuineb, lâo toxic xban nak aßan retalil chiku nak li Kâcuaß tixkßaxtesiheb saß kukß, chan laj Jonatán.
11Vậy hai người đều đi lên đồn Phi-li-tin. Dân Phi-li-tin nói: Kìa, những người Hê-bơ-rơ ra từ hang đá là nơi chúng nó ẩn trốn kia.
11Joßcan nak queßcôeb ut queßxcßut ribeb chiruheb laj filisteo. Ut eb laj filisteo queßxye: —¡Ilomakeb! Eb laj Israel yôqueb chi êlc saß li ochoch pec li queßxmuk cuiß ribeb, chanqueb.
12Lính của đồn nói cùng Giô-na-than và kẻ vác binh khí mà rằng: Hãy đi đến chúng ta, chúng ta có chuyện tỏ cùng hai ngươi. Giô-na-than nói với kẻ vác binh khí mình rằng: Hãy theo ta, vì Ðức Giê-hô-va đã phó chúng nó vào tay Y-sơ-ra-ên.
12Ut queßxjap reheb chixyebal re laj Jonatán ut li natenkßan re: —Quimkex arin. Cuan cßaßru takaye êre, chanqueb. Laj Jonatán quixye re laj tênkß re: —Yoßo riqßuineb xban nak li Kâcuaß ac xkßaxtesiheb laj filisteo saß kukß lâo aj Israel, chan.
13Giô-na-than dùng tay và chơn leo lên, và kẻ cầm binh khí leo theo. Người Phi-li-tin ngã trước mặt Giô-na-than, và kẻ vác binh khí giết chúng nó chết ở đằng sau người.
13Ut laj Jonatán quitakeß saß li naßajej cuanqueb cuiß laj filisteo. Ut li natenkßan re yô chi xic chirix. Laj Jonatán naxtolcßosiheb chak eb laj filisteo ut laj tênkß re naxcamsiheb.
14Trong trận thứ nhứt nầy, Giô-na-than và kẻ vác binh khí người giết chừng hai mươi người, trong một khoảng nửa công đất.
14Saß li xbên plêt aßan junmay tana li soldado li queßxcamsiheb laj Jonatán ut li natenkßan re saß li chßina naßajej aßan.
15Sự hãi hùng tràn ra trong trại quân, trong đồng, và trong cả dân Phi-li-tin. Quân đồn và đảng cướp giựt đều bị kinh khủng; đất bị rúng động; ấy như một sự kinh khiếp của Ðức Chúa Trời vậy.
15Chixjunileb laj filisteo li cuanqueb saß lix muhebâleb queßxucuac joß eb ajcuiß li soldados li yôqueb chi cßacßalênc. Ut queßxucuac ajcuiß li nequeßxic chi elkßac. Nequeßsicsot xban xxiuheb. Qui-ecßan li chßochß ut li Dios quixsach xnaßlebeb.
16Lính canh của Sau-lơ ở tại Ghi-bê-a trong xứ Bên-gia-min, đều thấy quân chúng Phi-li-tin tản lạc và chạy trốn lộn xộn.
16Ut eb lix soldado laj Saúl li yôqueb chi cßacßalênc aran Gabaa saß xnaßajeb li ralal xcßajol laj Benjamín queßril nak yôqueb chi xucuac laj filisteo ut yôqueb chi êlelic yalak bar.
17Bấy giờ, Sau-lơ nói với quân lính ở cùng mình mà rằng: Hãy kiểm điểm xem ai là những người bỏ đã hàng ngũ chúng ta. Chúng kiểm điểm, thấy thiếu Giô-na-than và kẻ vác binh khí người.
17Laj Saúl quixye reheb li cuanqueb rochben: —Chßutubomak chixjunileb li soldado ut têril ani li mâ aniheb saß kayânk, chan. Nak queßxchßutubeb chixjunileb li soldados queßxqßue retal nak mâ ani laj Jonatán, chi moco li cuînk li natenkßan re.
18Sau-lơ nói cùng A-hi-gia rằng: Hãy đem hòm của Ðức Chúa Trời đến gần (vì trong ngày đó hòm của Ðức Chúa Trời ở cùng dân Y-sơ-ra-ên).
18Laj Saúl quixye re laj Ahías laj tij: —Cßam chak arin lix efod li Kâcuaß, chan. (Saß eb li cutan aßan laj Ahías yô chixcßambal li efod chiruheb laj Israel.)
19Nhưng khi Sau-lơ nói với thầy tế lễ, thì tiếng ồn ào lại càng thêm lên trong trại quân Phi-li-tin. Sau-lơ nói cùng thầy tế lễ rằng: Hãy rút tay ngươi lại.
19Toj yô ajcuiß chi âtinac laj Saúl riqßuin laj tij nak quiril nak eb laj filisteo yôqueb chixpokokinquil ribeb ut incßaß chic nequeßxtau cßaßru teßxbânu. Ut laj Saúl quixye re laj Ahías: —Mâcßam chak li efod. Canab cuan, chan.
20Ðoạn, Sau-lơ và hết thảy quân lính ở cùng người hiệp lại, đi tới chốn chiến trường, kìa thấy người Phi-li-tin rút gươm giết lẫn nhau, hỗn loạn cực điểm.
20Ut queßxchßutub ribeb chixjunileb lix soldados li cuanqueb rochben laj Saúl ut queßcôeb chi pletic riqßuineb laj filisteo. Eb laj filisteo yôqueb chixcamsinquil ribeb chi ribileb rib xban nak sachsôqueb chic xnaßlebeb.
21Những người Hê-bơ-rơ đã từ lâu phục dân Phi-li-tin và theo họ trong trại quân, nay trở lòng hiệp với Y-sơ-ra-ên vẫn theo cùng Sau-lơ và Giô-na-than.
21Cuanqueb xcomoneb laj Israel queßcôeb saß xyânkeb laj filisteo junxil. Queßxjal xcßaßuxeb ut queßoquen cuißchic chirixeb laj Israel li cuanqueb rochben laj Saúl ut laj Jonatán.
22Lại khi hết thảy người Y-sơ-ra-ên đương ẩn trong núi Ép-ra-im, nghe dân Phi-li-tin chạy trốn, cũng rượt đuổi theo chúng nó mà đánh giặc.
22Joßcan ajcuiß eb laj Israel li queßxmuk ribeb saß lix naßajeb li ralal xcßajol laj Efraín, li tzûl ru. Queßril nak yôqueb chi êlelic laj filisteo. Queßcôeb ajcuiß eb aßan chi pletic riqßuineb laj filisteo.
23Ðức Giê-hô-va giải cứu Y-sơ-ra-ên trong ngày đó; cơn giặc tràn đến Bết-a-ven.
23Queßpletic toj retal queßcuulac saß li tenamit Bet-avén. Ut li Kâcuaß Dios quixcoleb laj Israel saß li cutan aßan.
24Cũng trong ngày đó, dân Y-sơ-ra-ên bị mệt đuối. Vả lại, Sau-lơ có thề cùng dân sự rằng: Ðáng rủa sả người nào sẽ ăn vật thực gì trước khi chiều tối, tức trước khi ta báo thù những kẻ cừu địch ta! Vì vậy, cả dân sự đều cử không ăn vật thực gì hết.
24Saß li cutan aßan tacuajenakeb li soldado aj Israel xban nak laj Saúl ac xbânu li juramento ut quixye: —Tzßektânanbilak li ani tâcuaßak nak toj mâjiß na-oc li kßojyîn cui toj mâjiß nequeßkêchaniheb laj filisteo, chan. Joßcan nak incßaß queßcuaßac eb li soldados aj Israel.
25Song chúng dân đã đến trong một cái rừng có mật ong trên mặt đất.
25Eb li soldado aj Israel queßcuulac saß jun li qßuicheß. Ut aran queßxtau li xyaßal cab saß li chßochß.
26Bấy giờ, dân sự đi vào trong rừng, thấy mật nầy chảy; chẳng ai dám chấm tay vào miệng, vì sợ lời thề.
26Nabal li xyaßal cab. Yô chi bêc rok. Abanan mâ ani quixchap re xban nak queßxucuac xban li juramento li quixye laj Saúl.
27Nhưng Giô-na-than không biết lời thề mà cha mình đã lập cùng dân sự, nên giơ đầu gậy mình cầm nơi tay chấm vào tàng mật ong, rồi lấy tay đem mật vào miệng, thì mắt người sáng ra.
27Abanan laj Jonatán incßaß quirabi li cßaßru quixye laj Saúl reheb li soldado. Joßcan nak quixchßic lix xukß saß li xyaßal cab ut quixlou li xyaßal cab li cuan chiru lix xukß. Nak quixlou li xyaßal cab quicßulun xchßôl.
28Có người trong dân chúng cất tiếng nói rằng: Cha ông có thề cùng dân chúng rằng: Ðáng rủa sả người nào ăn vật thực gì trong ngày nay. Vả, dân sự đều bị mệt đuối.
28Jun li soldado quixye re laj Jonatán: —Lâ yucuaß quixbânu jun li juramento riqßuineb li soldados ut quixye nak tzßektânanbilak li ani tâtzacânk chiru li cutan aßin. Joßcan nak tacuajenako, chan.
29Giô-na-than đáp rằng: Cha ta làm rối cho xứ, hãy xem mắt ta đã sáng dường nào, vì cớ nếm chút mật nầy!
29Laj Jonatán quixye re: —Incßaß us xbânu lin yucuaß. Qßue retal. Lâin xcßulun inchßôl xban li xyaßal cab li xinlou.
30Ồ! chớ chi ngày nay dân sự đã ăn vật chiếm được của thù nghịch, thì sự thua bại dân Phi-li-tin đã lớn hơn biết bao!
30Us raj cui ta eb li kasoldados queßxtzaca li tzacaêmk li queßrêchani riqßuineb laj filisteo. Kßaxal raj cuißchic nabaleb laj filisteo xeßkacamsi, chan.
31Vậy ngày đó, dân Y-sơ-ra-ên đánh bại dân Phi-li-tin từ Mích-ma cho đến A-gia-lôn.
31Saß li cutan aßan eb laj Israel queßnumta saß xbêneb laj filisteo chalen saß li tenamit Micmas toj saß li tenamit Ajalón. Abanan kßaxal tacuajenakeb li tenamit.
32Dân sự bị mệt đuối lắm, bèn xông vào của cướp, bắt chiên, bò, bò con, giết đi trên đất, rồi ăn thịt lộn với huyết.
32Queßcôeb saß junpât bar cuan cuiß li cßaßak re ru li xeßrêchani saß li plêt. Ut aran queßxcamsiheb li cuacax ut li cocß ral. Ut queßxcamsiheb ajcuiß li carner ut queßxtiu li tib rech xiquic lix quiqßuel.
33Có người đến nói cùng Sau-lơ rằng: Kìa, dân sự phạm tội cùng Ðức Giê-hô-va, mà ăn thịt lộn với huyết. Người đáp: Ấy là một sự lỗi đạo! Hãy lập tức lăn một hòn đá lớn đến gần ta.
33Quiyeheß resil re laj Saúl nak eb laj Israel yôqueb chi mâcobc chiru li Dios xban nak yôqueb chixtzacanquil li tib li toj cuan xquiqßuel. Laj Saúl quixye reheb: —Lâex xekßet li râtin li Dios. Ayukex ut cßamomak chak junak li nimla pec arin, chan reheb.
34Lại tiếp rằng: Hãy đi khắp cơ binh rao rằng mỗi người phải dẫn đến ta chiên và bò mình, và giết đi tại đây. Rồi các ngươi sẽ ăn thịt nó; như vậy các người không phạm tội cùng Ðức Giê-hô-va mà ăn thịt lộn với huyết. Thế thì, trong đêm đó, mỗi người trong chúng dẫn súc vật mình có dưới tay, và giết nó trên một hòn đá.
34Ut quixye ajcuiß reheb: —Yehomak reheb li tenamit nak chi xjunjûnkaleb teßxcßam chak eb lix cuacax ut eb lix carner. Teßxcamsiheb arin ut teßxtiu re nak incßaß teßmâcobk chiru li Dios riqßuin xtiubal lix quiqßuel li xul, chan. Saß li kßojyîn aßan chixjûnkaleb queßxcßam lix cuacax ut lix carner ut queßxcamsiheb saß li naßajej aßan re teßxtiu.
35Sau-lơ bèn lập một bàn thờ cho Ðức Giê-hô-va; ấy là bàn thờ thứ nhứt mà người lập cho Ðức Giê-hô-va.
35Ut laj Saúl quixyîb jun li artal re li Kâcuaß. Aßan li xbên artal li quixyîb chiru li Dios.
36Ðoạn, Sau-lơ nói: Chúng ta hãy đi xuống đuổi theo dân Phi-li-tin trong khi ban đêm, cướp phá chúng nó cho đến sáng sớm, và chớ để sống một ai. Chúng thưa rằng: Hãy làm mọi điều vua lấy làm phải. Thầy tế lễ bèn nói: Chúng ta hãy đến gần Ðức Chúa Trời.
36Laj Saúl quixye reheb lix soldado: —Yoßkeb chi pletic riqßuineb laj filisteo chiru li kßojyîn aßin. Topletik riqßuineb toj tâsakêuk re nak mâ jun chic reheb tâcanâk chi yoßyo, chan. Eb li soldados queßxye: —Lâo takabânu joß tâye, chanqueb. Abanan laj tij quixye: —Kapatzßak xbên cua re li Dios ma us toxic chi pletic malaj ut incßaß us, chan.
37Sau-lơ cầu vấn Ðức Chúa Trời rằng: Tôi phải nên xuống đuổi theo dân Phi-li-tin chăng? Ngài sẽ phó chúng nó vào tay Y-sơ-ra-ên chăng? Song lần nầy Ðức Chúa Trời chẳng đáp lại lời gì hết.
37Ut laj Saúl quitijoc ut quixye re li Dios: —¿Ma us toxic chi pletic riqßuineb laj filisteo? ¿Ma tâkßaxtesiheb saß kukß? chan. Abanan li Dios incßaß quixsume lix tij saß li cutan aßan.
38Ðoạn, Sau-lơ bảo rằng: Hỡi các quan trưởng của dân sự, hết thảy hãy đến gần đây, xét tìm tội lỗi đã phạm trong ngày nay là sao.
38Joßcan nak laj Saúl quixbokeb li nequeßcßamoc be saß xyânkeb li soldados ut quixye reheb: —Quimkex arin. Takatzßil âtin re xnaubal ani xmâcob chiru li cutan aßin.
39Ta chỉ Ðức Giê-hô-va hằng sống, là Ðấng giải cứu Y-sơ-ra-ên, mà thề rằng kẻ đã phạm tội, dẫu chính là Giô-na-than, con trai ta, cũng phải chết đi! Trong cả dân sự chẳng có ai đáp lời người.
39Saß xcßabaß li yoßyôquil Dios li nacoloc ke lâo aj Israel, lâin ninye êre nak tâcamsîk li ani cuan xmâc, usta aßan laj Jonatán li cualal, chan laj Saúl. Abanan mâ jun saß xyânkeb quichakßoc.
40Người bèn nói cùng cả Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi hãy đứng bên này; ta và Giô-na-than, con trai ta, sẽ đứng bên kia. Dân sự thưa rằng: Hãy làm điều vua lấy làm phải.
40Ut laj Saúl quixye reheb: —Lâex texxaklîk aran ut lâin tinxaklîk arin cuochben laj Jonatán li cualal, chan. Ut eb li soldados queßxye: —Bânu li cßaßru nacacßoxla nak us xbânunquil, chanqueb.
41Sau-lơ thưa cùng Ðức Giê-hô-va rằng: Ôi Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! xin hãy tỏ ra sự thật. Giô-na-than và Sau-lơ bị chỉ ra, còn dân sự thì vô can.
41Laj Saúl quitijoc ut quixye re li Kâcuaß: —At Kâcuaß, at kaDios lâo aj Israel, ¿cßaßut nak incßaß xasume lin tij anakcuan? Cui lâin ut laj Jonatán cuan kamâc, nak tobûlik, tâêlk li Urim. Cui ut eb li soldados cuanqueb xmâqueb, tâêlk li Tumin, chan. Ut nak queßbûlic, quicßutun nak laj Saúl ut laj Jonatán cuanqueb xmâc. Mâcuaßeb li soldados li cuanqueb xmâc.
42Sau-lơ nói: Hãy bắt thăm cho ta và Giô-na-than, con trai ta.
42Ut laj Saúl quixye reheb: —Texbûlik re rilbal ma lâin cuan inmâc, malaj ut laj Jonatán cuan xmâc, chan. Ut nak queßbûlic, quicßutun nak laj Jonatán cuan xmâc.
43Giô-na-than bị chỉ ra. Sau-lơ nói cùng Giô-na-than rằng: Hãy tỏ cho ta biết điều ngươi đã làm. Giô-na-than thú thật rằng: Tôi có dùng đầu gậy tôi cầm nơi tay mà nếm chút mật ong; nầy tôi đây phải chết.
43Laj Saúl quixye re laj Jonatán: —Ye cue cßaßru li mâc xabânu, chan. Laj Jonatán quixye re: —Lâin xinlou caßchßin li xyaßal cab li xcana chi rußuj lin xukß. ¿Ma yal xban aßan nak tincâmk? chan.
44Sau-lơ nói: Hỡi Giô-na-than, nếu ngươi không chết, nguyện Ðức Giê-hô-va giáng họa rất nặng trên ta!
44Laj Saúl quixye re laj Jonatán: —At Jonatán, li Dios tinixqßue chixtojbal inmâc cui incßaß tatcâmk lâat anakcuan, chan.
45Nhưng dân sự đáp cùng Sau-lơ rằng: Uûa! Giô-na-than là người đã làm cho Y-sơ-ra-ên được đại thắng dường kia, phải chết sao? Ðiều đó chẳng nên! Chúng tôi chỉ sanh mạng của Ðức Giê-hô-va mà thề rằng một sợi tóc trên đầu người sẽ chẳng rụng xuống đất; vì người ở cùng Ðức Chúa Trời mà được thắng ngày nay. Như vậy, dân sự giải cứu Giô-na-than, và người khỏi bị xử tử.
45Abanan eb li soldados queßxye re laj Saúl: —¿Ma târûk ta biß tâcâmk laj Jonatán? Incßaß, xban nak aßan xcoloc ke lâo aj Israel chiruheb laj filisteo. Incßaß târûk tâcamsîk. Saß xcßabaß li yoßyôquil Dios nakaye nak chi moco jun li rismal xjolom tâisîk xban nak li cßaßru quixbânu anakcuan, quixbânu xban nak li Kâcuaß quitenkßan re, chanqueb. Joßcan nak eb li soldados queßxcol laj Jonatán ut incßaß quicamsîc.
46Ðoạn, Sau-lơ trở về, chẳng đuổi theo dân Phi-li-tin nữa; và dân Phi-li-tin đều trở về trong xứ mình.
46Ut laj Saúl quixcanab pletic riqßuineb laj filisteo ut eb laj filisteo queßsukßi cuißchic saß xnaßajeb.
47Sau khi Sau-lơ đã cầm quyền nước Y-sơ-ra-ên, thì người giao chiến cùng kẻ thù nghịch mình tứ phía, tức cùng Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, các vua Xô-ba, và cùng dân Phi-li-tin; hễ người cử binh đến đâu, thì báo thù được đến đó.
47Nak ac x-oc laj Saúl chokß xreyeb laj Israel, quipletic riqßuineb chixjunileb li xicß nequeßiloc reheb. Quipletic riqßuineb laj Moab, ut eb laj Amón, ut eb laj Edom. Ut quipletic ajcuiß riqßuineb lix reyeb laj Soba, joß eb ajcuiß laj filisteo. Saß chixjunil li tenamit li queßpletic cuiß, eb laj Israel queßnumta saß xbêneb li xicß nequeßiloc reheb.
48Người tụ tập quân lính, đánh dân A-ma-léc, và giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay những kẻ cướp phá họ.
48Cau xchßôl chi pletic laj Saúl. Quixchßutubeb lix soldados ut quinumta saß xbêneb laj Amalec. Ut quixcoleb laj Israel chiruheb chixjunileb li nequeßelkßan re li cßaßru reheb.
49Các con trai của Sau-lơ là Giô-na-than, Gi-sê-vi, và Manh-ki-sua, người cũng có hai con gái; lớn, tên là Mê-ráp; nhỏ, tên là Mi-canh;
49Cuanqueb oxibeb li ralal laj Saúl. Aßaneb laj Jonatán, laj Isúi, ut laj Malquisúa. Ut cuanqueb ajcuiß cuib xrabin. Li asbej, aßan lix Merab xcßabaß ut li îtzßinbej, aßan lix Mical.
50vợ Sau-lơ tên là A-hi-nô-am, con gái của A-hi-mát. Tổng binh của đạo binh người là Áp-ne, con trai của Nê-rơ, chú của Sau-lơ,
50Li rixakil laj Saúl, aßan lix Ahinoam, lix rabin laj Ahimaas. Ut li nataklan saß xbêneb lix soldados, aßan laj Abner, li ralal laj Ner. Laj Ner, aßan rican laj Saúl.
51Kích, cha của Sau-lơ và Nê-rơ, cha của Áp-ne, là con trai của A-bi-ên.
51Lix yucuaß laj Saúl, aßan laj Cis. Ut laj Ner, aßan lix yucuaß laj Abner. Laj Cis ut laj Ner, aßaneb li ralal laj Abiel.Joß najtil quiyoßyo, laj Saúl cau quipletic riqßuineb laj filisteo. Joßcan nak quixqßue saß xyânkeb lix soldados chixjunileb li cuînk li cauheb xchßôl ut cauheb rib.
52Trọn đời Sau-lơ có sự tranh chiến dữ dội cùng dân Phi-li-tin; hễ khi Sau-lơ thấy người mạnh mẽ và bạo dạn, thì chiêu mộ người theo mình.
52Joß najtil quiyoßyo, laj Saúl cau quipletic riqßuineb laj filisteo. Joßcan nak quixqßue saß xyânkeb lix soldados chixjunileb li cuînk li cauheb xchßôl ut cauheb rib.