1Ta thấy Chúa đứng gần bàn thờ và phán rằng: Hãy đánh các đầu cột, hầu cho những ngạch cửa bị rúng động; hãy đập bể ra trên đầu hết thảy chúng nó! Kẻ nào sót lại trong chúng nó thì ta sẽ giết bằng gươm, không một người nào trốn được, không một người nào lánh khỏi.
1Laj Amós quixye: —Chanchan matqßuenbil quinbânu nak quicuil li Kâcuaß xakxo chiru li artal. Quixye cue: —Tâjucß li templo. Tâcuecßasi li rokechal toj retal tâtßanekß saß xbêneb li tenamit. Ut eb li incßaß teßcâmk, lâin tinqßuehok reheb chi camsîc riqßuin chßîchß saß li plêt re nak mâ ani chic tâcolekß.
2Dầu chúng nó đào đến âm phủ, tay ta cũng sẽ móc chúng nó ra; dầu chúng nó trèo lên trên trời, ta cũng sẽ làm cho chúng nó từ đó xuống.
2Usta teßxyal chak xmukbal ribeb toj saß xchamal li xbalba, toj aran toxebintau lâin. Ut usta teßxic toj saß choxa chixmukbal ribeb, lâin tebintau aran.
3Dầu chúng nó ẩn mình nơi chót núi Cạt-mên, ta cũng sẽ đi tìm đặng kéo chúng nó ra; dầu chúng nó lánh khuất mắt ta nơi đáy biển, ta cũng sẽ rắn cắn chúng nó tại đó.
3Ut cui ta teßxyal xmukbal ribeb saß xbên li tzûl Carmelo toxebinsicß aran ut tebinchap. Ut cui ta teßxyal xmukbal ribeb saß xchamal li palau, tintakla li nimla xul li cuan saß li haß chixtiubaleb.
4Ví bằng chúng nó đi làm phu tù trước mặt kẻ thù nghịch mình, ở đó ta cũng sẽ sai gươm giết chúng nó đi. Thật, ta để mắt trên chúng nó đặng làm họa cho, chẳng phải để làm phước cho.
4Ut cui ta teßchapekß ut teßcßamekß xbaneb li xicß nequeßiloc reheb, tintakla xcamsinquileb riqßuin chßîchß. Lâin tebinsach ut incßaß tincoleb, chan li Kâcuaß.
5Vì Chúa, Ðức Giê-hô-va vạn quân, là Ðấng rờ đến đất thì đất liền tan chảy, hết thảy dân cư nó khóc than; trọn cả đất dậy lên như Sông cái và lún xuống như Sông của Ê-díp-tô.
5Li Kâcuaß, li nimajcual Dios, aßan li na-ecßasin re li ruchichßochß ut nahaßoß. Ut chixjunileb li tenamit teßyâbak xban xrahil xchßôleb. Nak teßsachekß chanchan nak nasachoc li nimaß Nilo li cuan Egipto nak nabutßin.
6Chúa đã xây dựng cung đền Ngài trong các từng trời, đã lập vòng khung Ngài trên đất. Ngài kêu gọi nước biển và đổ ra trên mặt đất. Danh Ngài là Ðức Giê-hô-va.
6Li Kâcuaß quixyîb lix naßaj saß choxa ut quixyîb ajcuiß lix sahob ru li choxa. Aßan li nachßutuban ru li haß li cuan saß li palau ut riqßuin aßan naxtßakresi li ruchichßochß. Kâcuaß lix cßabaß.
7Ðức Giê-hô-va có phán: Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên, ta há chẳng coi các ngươi như con cái của Ê-thi-ô-bi sao? Ta há chẳng từng đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi đất Ê-díp-tô, người Phi-li-tin khỏi Cáp-tô, và người Sy-ri khỏi Ki-rơ, hay sao?
7Joßcaßin naxye li Kâcuaß reheb laj Israel: —Chicuu lâin, lâex juntakßêtex riqßuineb laj Etiopía. ¿Ma mâcuaß ta biß lâin quin-isin chak êre aran Egipto? Ut, ¿ma mâcuaß ta biß lâin quin-isin reheb laj filisteo saß li naßajej Creta ut eb laj arameo saß li naßajej Kir? chan li Kâcuaß Dios.
8Nầy, con mắt Chúa Giê-hô-va để trên nước có tội nầy, và ta sẽ hủy phá nó khỏi mặt đất; nhưng ta sẽ không diệt sạch nhà Gia-cốp, Ðức Giê-hô-va phán vậy.
8Lâin yôquin chirilbal li mâusilal li yôqueb chixbânunquil lin tenamit. Lâin tinsach ruheb saß li ruchichßochß. Abanan incßaß tinsacheb chixjunileb li ralal xcßajol laj Jacob.
9Vì nầy, ta sẽ truyền lịnh, và sẽ rải tan nhà Y-sơ-ra-ên ra giữa mọi dân, như lúa mì bị rải tan trong cái sàng, mà không có một hột nào rơi xuống đất.
9Tincanabeb laj Israel chi chapecß xbaneb li jalan xtenamit. Chanchan nak nachikßeß li ru li trigo saß li naßajej li natzßilman cuiß ut mâ jun li ru châbil natzßekeß saß chßochß.
10Phải, phàm những kẻ có tội trong dân ta, phàm những kẻ nói rằng: Hoạn nạn sẽ không gần chúng ta, cũng không kịp đến chúng ta, thì chúng nó sẽ chết bởi gươm.
10Teßcamsîk riqßuin chßîchß chixjunileb laj mâc saß xyânkeb lin tenamit Israel. Teßcamsîk li nequeßxye chi joßcaßin: Mâcßaß takacßul lâo, chi moco toloxtau li raylal toj arin, chanqueb.
11Trong ngày đó, ta sẽ dựng lại nhà tạm của Ða-vít, là nhà đã đổ, và tu bổ lại những chỗ rách nát của nó. Ta sẽ dựng lại những nơi đổ nát và xây nó lại như ngày xưa;
11Li Kâcuaß naxye: —Tâcuulak xkßehil nak lâin tincuaclesîk cuißchic lix tenamit laj David, li tßanenak anakcuan. Tinyîb cuißchic li tzßac li sutsu cuiß ut tinyîb cuißchic li juqßuinbil. Tinyîb chi chßinaßus joß nak quicuan junxil.
12đến nỗi chúng nó sẽ thâu được những dân sót của Ê-đôm và hết thảy các nước được xưng bởi danh ta, Ðức Giê-hô-va là Ðấng làm trọn mọi điều ấy phán vậy.
12Ut eb lin tenamit Israel teßnumtâk cuißchic saß xbêneb laj Edom. Ut teßrêchani cuißchic li naßajej li ac qßuebil reheb junxil inban lâin, chan li Kâcuaß. Ut li Kâcuaß li quiyehoc re aßin, aßan li tâbânûnk re.
13Ðức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, kẻ cày sẽ theo kịp kẻ gặt, kẻ đạp nho theo kịp kẻ gieo giống. Các núi sẽ nhỏ rượu ngọt ra và mọi đồi sẽ tan chảy.
13Li Kâcuaß naxye chi joßcaßin: —Tâcuulak xkßehil nak li acuîmk tixqßue chi nabal li ru. Mâjißak ajcuiß nequeßrakeß chi kßoloc nak teßoc cuißchic chi âuc. Ut toj mâjißak ajcuiß nequeßrakeß chixyatzßbal li ru li uvas nak teßoc cuißchic chi âuc. Ut li uvas li cuanqueb yalak bar saß eb li tzûl teßûchînk chi us ut nabal li xyaßal tâêlk.
14Ta sẽ đem phu tù của dân Y-sơ-ra-ên ta trở về; chúng nó sẽ lập lại các thành bị phá, và ở đó. Chúng nó sẽ trồng vườn nho và uống rượu nó, sẽ cày cấy vườn mình và ăn trái nó.
14Ut tincßameb cuißchic lin tenamit Israel saß lix naßajeb. Ut teßxyîb cuißchic lix tenamiteb li qui-osoß ut aran teßcuânk. Teßâuk cuißchic uvas ut teßrucß lix yaßal. Teßrau cuißchic li racuîmk ut teßxtzaca li ru li naxqßue.Lâin tinqßueheb cuißchic chi cuânc saß li naßajej li quinqßue reheb junxil ut mâ ani chic tâisînk reheb saß lix naßajeb, chan li Kâcuaß Dios.
15Ta sẽ lại trồng chúng nó trên đất chúng nó, và chúng nó sẽ không hề bị nhổ khỏi đất mình mà ta đã ban cho, Ðức Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời ngươi phán vậy.
15Lâin tinqßueheb cuißchic chi cuânc saß li naßajej li quinqßue reheb junxil ut mâ ani chic tâisînk reheb saß lix naßajeb, chan li Kâcuaß Dios.