Vietnamese 1934

Kekchi

Ezekiel

20

1Năm thứ bảy, ngày mồng mười tháng năm, có một vài trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến đặng cầu hỏi Ðức Giê-hô-va, họ ngồi trước mặt ta.
1Cuanqueb li nequeßcßamoc be saß xyânkeb laj Israel queßcuulac cuiqßuin nak yô li lajêb xbe li roß po re li xcuuk li chihab kacßambal Babilonia. Queßcuulac chixpatzßbal cßaßru naraj li Dios nak teßxbânu ut queßcßojla chicuu.
2Bấy giờ, có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
2Ut li Kâcuaß quiâtinac cuiqßuin ut quixye cue:
3Hỡi con người, hãy nói cùng các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, bảo chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Có phải các ngươi đến đặng cầu hỏi ta chăng? Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ta không để cho các ngươi cầu hỏi.
3—At ralal cuînk, tat-âtinak riqßuineb li cuînk aßin li nequeßcßamoc be saß xyânkeb laj Israel ut tâye reheb: Aßan aßin li naxye li nimajcual Dios. ¿Ma xexchal chixpatzßbal ênaßleb cuiqßuin? Lâin li yoßyôquil Dios ninye êre nak lâin incßaß tinsume li cßaßru xexchal chixpatzßbal cue.
4Hỡi con người, ngươi muốn xét đoán chúng nó, ngươi muốn xét đoán chúng nó chăng? Hãy làm cho chúng nó biết những sự gớm ghiếc của tổ phụ mình.
4At ralal cuînk, ¿ma tatrakok âtin saß xbêneb? Cui tatrakok âtin saß xbêneb tâye reheb li mâusilal li queßxbânu lix xeßtônil yucuaßeb.
5Vậy ngươi khá nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ðương ngày mà ta chọn Y-sơ-ra-ên, mà ta thề cùng dòng dõi nhà Gia-cốp, mà ta tỏ mình cho chúng nó biết ta trong đất Ê-díp-tô, khi ta thề cùng chúng nó, và rằng: Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các ngươi;
5Tâye reheb nak lâin li Kâcuaß quintaksi li cuukß ut quinbânu li juramento saß li cutan nak quinsicß ruheb chokß intenamit laj Israel li ralal xcßajol laj Jacob. Ut quincßutbesi cuib chiruheb nak cuanqueb Egipto. Quintaksi li cuukß ut quinye reheb: Lâinak li Kâcuaß lê Dios.
6ngày đó ta thề hứa cùng chúng nó rằng ta sẽ đem chúng nó ra khỏi đất Ê-díp-tô đặng vào đất mà ta đã tìm sẵn cho chúng nó, tức là đất đượm sữa và mật ong, vinh hiển nhứt trong các đất.
6Saß li cutan aßan lâin quinye reheb riqßuin juramento nak lâin teßcuisi saß li naßajej Egipto ut tincßameb saß jun châbil naßajej li quinsicß ru chokß reheb li na-el cuiß chi us li sahil echej. Aßan li kßaxal chßinaßus chiru chixjunil li naßajej.
7Ta nói cùng chúng nó rằng: Các ngươi ai nấy khá quăng xa mình những sự gớm ghiếc của mắt các ngươi, và chớ làm ô uế minh với các thần tượng của Ê-díp-tô! Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các ngươi.
7Lâin li Kâcuaß quinye reheb: —Chêjûnkalex têsach ruheb li yîbanbil dios li nequelokßoni. Kßaxal yibeb ru. Mêmux êrib riqßuineb lix jalanil dioseb laj Egipto. Lâin li Kâcuaß lê Dios, chanquin reheb.
8Nhưng mà chúng nó dấy loạn nghịch cùng ta, và không muốn nghe ta; ai nấy không ném bỏ những sự gớm ghiếc của mắt mình, và không lìa bỏ các thần tượng của Ê-díp-tô. Bấy giờ ta nói rằng ta sẽ đổ cơn giận ta trên chúng nó, làm trọn sự giận ta nghịch cùng chúng nó giữa đất Ê-díp-tô.
8Abanan queßxkßetkßeti ribeb ut incßaß queßabin chicuu. Incßaß queßrisi saß xyânkeb li jalanil dios li queßcuulac chiruheb xlokßoninquil, chi moco queßxtzßektâna lix jalanil dioseb laj Egipto. Joßcan nak quinye nak tinqßueheb chixtojbal lix mâqueb aran Egipto toj retal nak tincuisi lin joskßil saß xbêneb.
9Nhưng ta đã vì cớ danh ta mà làm, hầu cho danh ấy khỏi bị nói phạm trước mắt các dân ngoại mà chúng nó ở giữa, trước mắt các dân ấy ta đã tỏ mình cho chúng nó biết, khi đem chúng nó ra khỏi đất Ê-díp-tô.
9Abanan incßaß quinbânu xban nak chiruheb laj Egipto lâin quinye reheb laj Israel nak tincuisiheb Egipto. Incßaß quicuaj nak tâisîk lin lokßal.
10Vậy ta đã làm cho chúng nó ra khỏi đất Ê-díp-tô, và đem chúng nó đến nơi đồng vắng.
10Joßcan nak lâin quincuisiheb chak Egipto ut quincßameb saß li chaki chßochß.
11ta ban cho chúng nó lề luật ta, và làm cho chúng nó biết mạng lịnh ta, là điều nếu người ta làm theo thì được sống bởi nó.
11Lâin quinqßue lin chakßrab reheb ut quincßut chiruheb chanru teßxbânu xban nak li ani naxbânu li cßaßru ninye, cuânk xyußam.
12Ta cũng cho chúng nó những ngày sa bát ta làm một dấu giữa ta và chúng nó, đặng chúng nó biết rằng ta là Ðức Giê-hô-va biệt chúng nó ra thánh.
12Lâin quinye reheb nak teßx-oxlokßi li hilobâl cutan chokß retalil li contrato li xkabânu chi kibil kib nak lâin li Kâcuaß ninsantobresin reheb.
13Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên nổi loạn nghịch cùng ta trong đồng vắng. Chúng nó không noi theo lệ luật ta, khinh bỏ mạng lịnh ta, là điều nếu người ta làm theo thì được sống bởi nó, và phạm các ngày sa-bát ta nặng lắm. Bấy giờ ta nói ta sẽ đổ cơn giận ta trên chúng nó trong đồng vắng, đặng diệt hết đi.
13Abanan eb laj Israel queßxkßetkßeti ribeb chicuu saß li chaki chßochß. Incßaß queßxbânu li cßaßru quinye reheb. Queßxtzßektâna lin chakßrab usta queßxnau nak riqßuin xbânunquil li cßaßru ninye cuânk xyußameb. Ut queßxmux ru li hilobâl cutan. Joßcan nak lâin quinye nak tincuisi lin joskßil saß xbêneb ut tinsach ruheb saß li chaki chßochß.
14Nhưng ta đã vì cớ danh ta mà làm hầu cho danh ấy không bị nói phạm trước mắt các dân ngoại, trước mắt các dân ấy ta đã đem chúng nó ra khỏi.
14Abanan incßaß quinsach ruheb xban nak incßaß quicuaj nak tâisîk lin lokßal xbaneb li xnînkal ru tenamit li queßiloc re nak quicuisiheb laj Israel aran Egipto.
15Vả, ta cũng đã thề cùng chúng nó trong đồng vắng rằng ta sẽ không đem chúng nó vào đất mà ta đã định cho chúng nó, là đất đượm sữa và mật ong, vinh hiển nhứt trong mọi đất;
15Joßcan nak lâin quinbânu li juramento saß li chaki chßochß ut quinye nak incßaß tebincanab chi oc saß li naßajej li quinyechißi reheb, li naßajej li kßaxal châbil li na-el cuiß chi us li sahil echej. Aßan li kßaxal chßinaßus chiru chixjunil li naßajej.
16vì chúng nó đã bỏ mạng lịnh ta, không noi theo lệ luật ta, và phạm những ngày sa-bát ta; bởi lòng chúng nó đã hướng về thần tượng mình.
16Quinbânu li juramento aßan xban nak queßxtzßektâna lin chakßrab. Incßaß queßxbânu li cßaßru quinye. Queßxmux ban ru li hilobâl cutan. Ut queßxqßue xchßôleb chixlokßoninquil li jalanil dios.
17Dầu vậy, mắt ta đã thương tiếc chúng nó, ta không hủy diệt chúng nó, ta không làm tận tuyệt chúng nó trong đồng vắng.
17Usta ac xeßxbânu chixjunil aßan, abanan lâin quincuyeb xmâc. Quicuil xtokßobâl ruheb ut incßaß quinsach ruheb saß li chaki chßochß.
18Ta phán cùng con cái chúng nó trong đồng vắng rằng: Ðừng noi theo luật lệ của ông cha các ngươi, đừng giữ mạng lịnh họ, và tự làm ô uế với những thần tượng của họ.
18Nak cuanqueb saß li chaki chßochß lâin quinye reheb li ralal xcßajoleb: —Mêbânu li cßaßru nequeßxye lê naß êyucuaß. Mêbânu joß nequextakla cuiß. Ut mêmux êrib riqßuin xlokßoninquileb lix jalanil dios.
19Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các ngươi, hãy noi theo luật lệ ta, vâng giữ mạng lịnh ta và làm theo.
19Lâin li Kâcuaß lê Dios. Cheqßuehak saß êchßôl li naxye saß lin chakßrab. Chebânuhak chi tzßakal li cßaßru ninye êre.
20Hãy biệt những ngày sa-bát ta ra thánh, nó sẽ làm dấu giữa ta và các ngươi, hầu cho chúng nó biết rằng ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các ngươi.
20Cheqßuehak xlokßal lin hilobâl cutan li quinsantobresi chokß retalil chokß cue ut chokß êre ajcuiß lâex nak lâin lê Dios.
21Nhưng con cái dấy loạn nghịch cùng ta; không noi theo luật lệ ta, không vâng giữ và không làm theo mạng lịnh ta, là điều người ta nếu làm theo thì được sống bởi nó; và chúng nó phạm những ngày sa-bát ta nữa. Bấy giờ, ta nói rằng ta sẽ đổ cơn giận ta trên chúng nó, và làm trọn sự giận của ta nghịch cùng chúng nó trong đồng vắng.
21Abanan eb li ralal xcßajoleb queßxkßetkßeti ajcuiß ribeb chicuu. Queßxkßet lin chakßrab ut incßaß queßxbânu li cßaßru quinye, usta cuânk xyußam li ani naxbânu lin chakßrab. Queßxmux ru li hilobâl cutan. Joßcan nak lâin quinye nak tincuisi lin joskßil saß xbêneb nak cuanqueb saß li chaki chßochß.
22Song le ta đã kéo tay ta lại, và đã vì danh ta mà làm, hầu cho danh ấy không bị nói phạm trước mắt các dân ngoại, trước mắt các dân ấy ta đã đem chúng nó ra khỏi.
22Abanan incßaß quinsach ruheb nak incßaß quicuaj nak tâisîk xlokßal lin cßabaß chiruheb li xnînkal ru tenamit li queßiloc re nak quicuisiheb chak laj Israel Egipto.
23Vả, ta đã thề cùng chúng nó nơi đồng vắng rằng ta sẽ làm cho chúng nó tan lạc giữa các người và rải ra trong nhiều nước;
23Joßcan nak lâin quinbânu li juramento nak cuanqueb saß li chaki chßochß ut quinye nak tinjeqßuiheb yalak bar saß eb li xnînkal ru tenamit.
24vì chúng nó không vâng làm mạng lịnh ta, nhưng đã bỏ lệ luật ta, đã phạm những ngày sa-bát ta, và mắt chúng nó đã hướng về các thần tượng của tổ phụ mình.
24Quinye chi joßcan xban nak incßaß queßxbânu li cßaßru quinye reheb. Queßxkßet lin chakßrab ut queßxmux ru li hilobâl cutan. Ut queßxlokßoniheb li jalanil dios li queßxlokßoni lix yucuaßeb.
25Ta cũng đã ban cho chúng nó những luật lệ chẳng lành, và mạng lịnh mà bởi đó chúng nó không được sống.
25Joßcan nak lâin quincanabeb chixbânunquil li chakßrab li moco us ta, li incßaß naqßuehoc yußam.
26Ta làm ô uế chúng nó bởi của cúng chúng nó, khi chúng nó khiến mọi con đầu lòng qua trên lửa, hầu ta làm cho chúng nó ra hoang vu, đến nỗi chúng nó biết rằng ta là Ðức Giê-hô-va.
26Quincanabeb chixmuxbal ribeb riqßuin li mayej queßxqßue reheb li jalanil dios. Queßxqßue li xbên ralaleb chokß xcßatbil mayej. Quincanabeb chixbânunquil chi joßcan re nak teßxucuak ut teßxqßue retal nak lâin li Kâcuaß.
27Vậy nên, hỡi con người, hãy nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên, bảo nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Tổ phụ các ngươi đã nói phạm ta, bởi chúng nó đã phạm pháp nghịch cùng ta.
27At ralal cuînk, tâye reheb laj Israel nak lâin li Kâcuaß Dios ninye chi joßcaßin: Joßcan ajcuiß lê xeßtônil yucuaß quineßxtzßektâna nak queßxkßetkßeti ribeb chicuu.
28Khi ta đã đem chúng nó vào đất mà ta đã thề ban cho chúng nó, bấy giờ chúng nó đã tìm thấy các gò cao và các cây rậm, mà dâng của lễ mình tại đó; chúng nó đã bày ra tại đó những của cúng chọc giận ta, cũng đã đặt tại đó những hương có mùi thơm, và đã làm lễ quán.
28Lâin quincßameb saß li châbil naßajej li quinyechißi reheb. Nak queßril li tzûl li najt xteram ut eb li cheß li nînk xmu, queßxqßue xmayejeb aran. Queßxchikß injoskßil nak queßxqßue lix cßatbil mayej ut queßxqßue li vino chokß xmayej ut queßxqßue ajcuiß li sununquil pom.
29Bấy giờ ta nói cùng chúng nó rằng: Nơi cao mà các ngươi đi đó là gì? Cho nên nơi cao ấy còn gọi là Ba-ma cho đến ngày nay.
29Ut lâin quinye reheb: —¿Cßaß na-oc cuiß li naßajej li najt xteram li nequexxic cuiß?— Ut chalen anakcuan Bama nequeßxye re li naßajej aßan.
30Vậy nên, hãy nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi tự làm ô uế mình theo cách tổ phụ các ngươi, và các ngươi hành dâm theo những sự gớm ghiếc của họ sao?
30Joßcan nak tâye reheb laj Israel nak lâin li Kâcuaß Dios ninye: ¿Ma toj têmux êrib joß queßxbânu lê naß êyucuaß? ¿Ma têlokßoniheb li jalanil dios joß queßxbânu eb aßan?
31Khi các ngươi dâng lễ vật, khi các ngươi còn tự làm ô uế với những thần tượng mình cho đến ngày nay sao? Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, ta há để cho các ngươi cầu hỏi sao? Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ta không để cho các ngươi cầu hỏi!
31Chalen anakcuan nequemux êrib riqßuin xlokßoninquileb li jalanil dios ut nequeqßue lê cocßal chokß cßatbil mayej. Ut chirix aßan nequexchal chixsicßbal ênaßleb cuiqßuin. Lâin li yoßyôquil Dios ninye êre nak lâin incßaß tinsume li cßaßru nequepatzß.
32Chẳng có sự gì sẽ xảy ra như điều các ngươi tưởng, khi các ngươi nói rằng: Chúng ta muốn nên như các dân tộc và các họ hàng ở các nước, thờ gỗ và đá.
32Lâex nequeye nak têraj cuânc joß eb li xnînkal ru tenamit li nequeßxlokßoni li cheß ut li pec. Abanan incßaß tâcßulmânk joß nequecßoxla lâex.
33Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ấy là dùng tay mạnh mẽ và cánh tay giang ra, lấy thạnh nộ đổ ra mà ta sẽ làm vua trên các ngươi!
33Lâin li yoßyôquil Dios ninye êre nak relic chi yâl lâin tintaklânk chi cau saß êbên lâex ut saß joskßil.
34Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi giữa các dân; ta sẽ dùng tay mạnh mẽ và cánh tay giang ra và sự thạnh nộ đổ ra để nhóm các ngươi lại từ các nước mà các ngươi đã bị tan tác trong đó.
34Riqßuin xnimal incuanquil ut riqßuin lin joskßil lâin texcuisi saß eb li tenamit li quexinjeqßui cuiß ut tinchßutub cuißchic êru.
35Ta sẽ đem các ngươi vào nơi đồng vắng của các dân, tại đó ta sẽ đối mặt xét đoán các ngươi.
35Lâin texincßam saß li chaki chßochß li cuan nachß riqßuineb li jalan tenamit. Ut aran tinrakok âtin saß êbên.
36Như ta đã xét đoán tổ phụ các ngươi trong đồng vắng đến Ê-díp-tô thể nào, thì ta cũng xét đoán các ngươi thể ấy, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
36Lâin tinrakok âtin saß êbên joß nak quinrakoc âtin saß xbêneb lê xeßtônil yucuaß saß li chaki chßochß li cuan saß xcuênt Egipto. Lâin li nimajcual Dios ninyehoc re aßin.
37Ta sẽ làm cho các ngươi qua dưới gậy, và sẽ đem các ngươi vào trong dây giao ước.
37Lâin texinqßue chi cuânc rubel incuanquil ut texinpuersi chixbânunquil li cßaßru xkaye nak xkabânu li contrato.
38Ta sẽ tẩy sạch khỏi các ngươi những kẻ bạn nghịch, và những kẻ phạm pháp nghịch cùng ta; ta sẽ đem chúng nó ra khỏi đất mình trú ngụ, nhưng chúng nó sẽ không vào đất Y-sơ-ra-ên. Như vầy các ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
38Lâin tincuisiheb saß êyânk li incßaß nequeßraj abînc chicuu, li nequeßxkßetkßeti ribeb ut nequeßxbânu li mâusilal. Tincuisiheb saß eb li naßajej li cuanqueb cuiß anakcuan. Abanan incßaß tincanabeb chi oc saß lê naßaj lâex aj Israel. Riqßuin aßan têqßue retal nak lâin li Kâcuaß.
39Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, về các ngươi, thì Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đi, mỗi người trong các ngươi khá thờ thần tượng mình! Sau sự đó, các ngươi chắc sẽ nghe ta và sẽ không nói phạm danh thánh của ta nữa bởi của cúng và bởi thần tượng các ngươi.
39Li Kâcuaß li nimajcual Dios naxye chi joßcaßin êre lâex aj Israel: Ayukex chêjunilex ut cßanjelankex chiruheb lê jalanil dios. Abanan tâcuulak xkßehil nak lâex têbânu li cßaßru tinye êre ut incßaß chic têmux ru lin santil cßabaß riqßuin lê mayej li nequeqßue chiruheb li jalanil dios.
40Chúa Giê-hô-va phán rằng: Vì trên núi thánh ta, trên núi cao của Y-sơ-ra-ên, tại đó cả nhà Y-sơ-ra-ên, hết thảy chúng nó, sẽ hầu việc ta ở trong đất. Tại đó ta sẽ nhận lấy chúng nó; và tại đó ta sẽ đòi của lễ các ngươi, và những trái đầu mùa của của lễ các ngươi, cùng mọi vật thánh.
40Abanan mokon chêjunilex lâex aj Israel tinêlokßoni saß lin santil naßajej saß li tzûl Sión li cuan aran Israel. Tâsahokß inchßôl êriqßuin xban nak chêjunilex texcßanjelak chicuu. Lâin tinye êre nak têcßam lê mayej chicuu ut lâin tincßul. Têcßam chak cue li xbên ru lê racuîmk ut li cßaßru lokß chêru.
41Ta sẽ nhận lấy các ngươi như mùi thơm tho, khi ta đem các ngươi ra khỏi giữa các dân, và nhóm các ngươi từ những người mà các ngươi đã bị tan tác; và ta sẽ được tỏ ra thánh trong các ngươi ở trước mắt dân ngoại.
41Texincßul joß li sununquil ban nak texcuisi saß eb li jalan tenamit li quexinjeqßui cuiß. Ut lâin tincßutbesi lin santilal saß êyânk chiruheb li xnînkal ru tenamit.
42Các ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va, khi ta sẽ đem các ngươi vào đất của Y-sơ-ra-ên, trong nước mà ta đã dùng lời thề hứa ban cho tổ phụ các ngươi.
42Lâex têqßue retal nak lâin li Kâcuaß nak texincßam saß lê naßaj lâex aj Israel. Aßan li naßajej li quinyechißi reheb lê xeßtônil yucuaß nak quintaksi li cuukß ut quinbânu li juramento.
43Tại đó các ngươi sẽ nhớ lại đường lối mình và mọi việc tự mình làm nên ô uế; các ngươi sẽ tự chán ngán trước mắt mình, vì cớ mọi sự dữ mình đã phạm.
43Ut tânak saß êchßôl li mâusilal li quilajêbânu nak quemux êrib. Lâex ajcuiß xicß têril êrib riqßuin li mâusilal li nequebânu.
44Các ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va, khi ta sẽ vì danh ta mà đãi các ngươi, chớ không theo đường lối xấu xa và việc làm hư nát của các ngươi, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
44Lâex aj Israel têqßue retal nak lâin li Kâcuaß ninbânu usilal êre. Mâcuaß xban nak châbilex nak ninbânu usilal êre. Xebânu ban li mâusilal. Ninbânu usilal êre re nak tâqßuehekß xlokßal lin cßabaß, chan li nimajcual Dios.
45(21:1) Có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
45Li Kâcuaß quiâtinac cuiqßuin ut quixye cue:
46(21:2) Hỡi con người, hãy xây mặt về phía nam, đối với phương nam mà nói: đối với rừng của đồng nội phương nam mà nói tiên tri.
46—At ralal cuînk, ilon saß li sur. Ut saß incßabaß lâin tâye resil li raylal li tâchâlk saß xbêneb li qßuicheß li cuan aran.
47(21:3) Khá nói cùng rừng phương nam rằng: Hãy nghe lời của Ðức Giê-hô-va! Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ nhen lửa trong ngươi, lửa sẽ thiêu nuốt hết cả cây xanh và cả cây khô nơi ngươi. Ngọn lửa hừng sẽ không tắt, mọi mặt sẽ bị cháy bởi nó từ phương nam chí phương bắc.
47Tâye chi joßcaßin re li qßuicheß li cuan saß li sur: Abihomak li râtin li Dios. Li nimajcual Dios xye: Lâin oc cue chixlochbal li xam li tâcßatok re chixjunileb li cheß, li rax rax ru joß ajcuiß li chaki. Incßaß târûk xchupbal li xam. Tâticlâk saß li sur ut tâcuulak toj saß li norte. Ut chixjunileb teßrecßa lix tikcual.
48(21:4) Mọi xác thịt sẽ thấy rằng ấy là ta, Ðức Giê-hô-va, đã nhen lửa; lửa sẽ không hề tắt.
48Ut chixjunileb li cristian teßxqßue retal nak lâin li Kâcuaß quinlochßoc re ut mâ ani târûk tâchupuk re, chan.Ut lâin ra quicuecßa ut quinye re: —At nimajcual Dios, chixjunileb nequeßxye nak li cßaßru ninye, aßan jaljôquil ru âtin ut incßaß nequeßxtau ru, chanquin.
49(21:5) Bấy giờ ta nói rằng: Ôi! Hỡi Chúa Giê-hô-va, họ nói về tôi rằng: Nó chẳng phải là kẻ nói thí dụ sao?
49Ut lâin ra quicuecßa ut quinye re: —At nimajcual Dios, chixjunileb nequeßxye nak li cßaßru ninye, aßan jaljôquil ru âtin ut incßaß nequeßxtau ru, chanquin.