1Vả, luật pháp chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau, không có hình thật của các vật, nên không bao giờ cậy tế lễ mỗi năm hằng dâng như vậy, mà khiến kẻ đến gần Ðức Chúa Trời trở nên trọn lành được.
1Li chak'rab li quiq'uehe' re laj Moisés yal retalil li usilal talaje'châlk mokon. Sa' li chak'rab a'an naxye nak te'mayejak rajlal chihab aban moco riq'uin ta li mayejac quitîcobresîc lix yu'ameb.
2Nếu được, thì những kẻ thờ phượng đã một lần được sạch rồi, lương tâm họ không còn biết tội nữa, nhơn đó, há chẳng thôi dâng tế lễ hay sao?
2Cui ta riq'uin li mayejac tâêlk lix mâqueb inc'a' raj chic neque'mayejac rajlal chihab. Abanan neque'rec'a sa' li râmeb nak toj cuan lix mâqueb. Jo'can nak inc'a' que'xcanab li mayejac.
3Trái lại, những tế lễ đó chẳng qua là mỗi năm nhắc cho nhớ lại tội lỗi.
3Lix yâlal li mayejac neque'xbânu a'an re xjulticanquil chiruheb nak toj cuanqueb xmâc.
4Vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được.
4Lix quiq'uel li chibât ut li toro inc'a' narisi li mâc.
5Bởi vậy cho nên, Ðấng Christ khi vào thế gian, phán rằng: Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật, Nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi.
5Jo'can nak li Kâcua' Jesucristo, nak ac châlc re sa' ruchich'och', quixye re li Acuabej Dios: Lâin ninnau nak lâat inc'a' nacacuaj lix quiq'uel li mayej xul. Inc'a' nacuulac châcuu li c'a'ak re ru chi mayejil. Jo'can nak tinâq'ue chi tz'ejcualoc'.
6Chúa chẳng nhậm của lễ thiêu, cũng chẳng nhậm của lễ chuộc tội.
6Inc'a' nacuulac châcuu li c'atbil mayej chi moco li c'a'ak re ru chi mayejil re risinquil li mâc.
7Tôi bèn nói: Hỡi Ðức Chúa Trời, nầy tôi đến Trong sách có chép về tôi Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.
7Ut quinye: Cue'quin, at Kâcua', tinbânu li nacacuaj jo' tz'îbanbil sa' li Santil Hu chicuix. (Sal. 40:6-8)
8Trước đã nói: Chúa chẳng muốn, chẳng nhậm những hi sinh, lễ vật, của lễ thiêu, của lễ chuộc tội, đó là theo luật pháp dạy; sau lại nói: Ðây nầy, tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.
8Jo'ca'in quixye li Cristo re li Dios: Inc'a' nacuulac châcuu li c'atbil mayej chi moco li c'a'ak re ru chi mayejil re risinquil li mâc. Xelaje'xbânu a'in xban nak jo'can tz'îbanbil sa' li chak'rab junxil. Quixye li âtin a'in usta ac tz'îbanbil sa' li chak'rab nak te'mayejak.
9Vậy thì, Chúa đã bỏ điều trước, đặng lập điều sau.
9Ut quixye ajcui': Cue'quin, at Kâcua'. Tinbânu li nacacuaj, chan. Jo'can nak li Dios quirisi xcuanquil li mayejac xul ut chok' rêkaj li mayej a'an quixq'ue li Jesucristo chi câmc chiru li cruz.
10Ấy là theo ý muốn đó mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Ðức Chúa Jêsus Christ một lần đủ cả.
10Li Jesucristo quixbânu li quiraj li Dios nak quixmayeja rib chiru li cruz. Jun sut ajcui' quixmayeja rib, ut riq'uin lix camic cuybil li kamâc ut santobresinbilo.
11Phàm thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc và năng dâng của lễ đồng một thức, là của lễ không bao giờ cất tội lỗi được,
11Sa' xyânkeb laj Israel, chixjunileb laj tij cuulaj cuulaj neque'mayejac ut li mayej a'an inc'a' narisi li mâc.
12còn như Ðấng nầy, đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời bên hữu Ðức Chúa Trời.
12Abanan li Jesucristo jun sut ajcui' quixmayeja rib nak quicam re xcuybal xsachbal li mâc. Chirix a'an cô sa' choxa ut quic'ojla sa' xnim uk' li Dios.
13từ rày về sau đương đợi những kẻ thù nghịch Ngài bị để làm bệ dưới chơn Ngài vậy.
13Ut aran yô chiroybeninquil nak tâcuulak xk'ehil nak tixyek' sa' rok eb li xic' neque'iloc re.
14Vì nhờ dâng chỉ một của tế lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời.
14Xban nak jun sut ajcui' quixmayeja rib li Jesucristo nak quicam chiru li cruz, mâc'a' chic xmâqueb chiru li Dios li santobresinbileb.
15Ðức Thánh Linh cũng làm chứng cho chúng ta như vậy; vì đã phán rằng:
15Jo'can ajcui' li Santil Musik'ej naxch'olob xyâlal chiku nak a'an tz'akal yâl xban nak jo'ca'in naxye sa' li Santil Hu:
16Chúa phán: Nầy là giao ước ta lập với chúng nó Sau những ngày đó, Ta sẽ để luật pháp ta vào lòng chúng nó Và ghi tạc nơi trí khôn,
16A'in li contrato tinq'ue reheb, chan li Dios. Tâcuulak xk'ehil nak tinq'ue lin chak'rab sa' lix c'a'uxeb ut tinq'ue ajcui' sa' li râmeb.
17Lại phán: Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi gian ác của chúng nó nữa.
17Ut quixye ajcui': Inc'a' chic tânak sa' inch'ôl lix mâqueb chi moco lix mâusilaleb. (Jer. 31:33-34)
18Bởi hễ có sự tha thứ thì không cần dâng của lễ vì tội lỗi nữa.
18Jo'can nak cui ac cuybil sachbil li kamâc, mâc'a' chic xc'anjel li mayejac re risinquil li mâc.
19Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Ðức Chúa Jêsus được dạn dĩ vào nơi rất thánh,
19Jo'can utan ex hermân, anakcuan naru tocuânk chi sum âtin riq'uin li Dios xban nak quihoye' lix lok'laj quiq'uel li Jesucristo nak quicam chiru li cruz sa' kac'aba'.
20bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài,
20Riq'uin lix camic li Jesucristo quixsach xcuanquil li t'icr li quicuan sa' li tabernáculo ut quixq'ue li ac' na'leb re xtaubal li junelic yu'am ut anakcuan naru tocuânk chi sum âtin riq'uin li Dios.
21lại vì chúng ta có một thầy tế lễ lớn đã lập lên cai trị nhà Ðức Chúa Trời,
21Li Jesucristo, a'an lix yucua'il aj tij chok' ke lâo li ralal xc'ajol li Dios.
22nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong, mà đến gần Chúa.
22Jo'can nak chikaq'ue kib rubel xcuanquil li Dios chi anchal kach'ôl ut chi mâc'a'ak kaxiu xban nak nakec'a nak mâc'a' chic li kamâc. Ch'ajbil chic li kâm xban xquiq'uel li Jesucristo ut cubsinbil chic kaha'.
23Hãy cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy chúng ta chẳng chuyển lay, vì Ðấng đã hứa cùng chúng ta là thành tín.
23Jo'can nak cauhak taxak kach'ôl sa' li kapâbâl xban nak li Dios naxq'ue li c'a'ru naxyechi'i ke.
24Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành;
24Chikasic' chanru takatenk'a kib re nak takara kib ut chikabânu usilal chi kibil kib.
25chớ bỏ qua sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy.
25Cuanqueb li inc'a' neque'xic sa' li ch'utubaj ib. Abanan inc'a' takabânu jo' neque'xbânu eb a'an. Junelic ban takach'utub kib re xlok'oninquil li Dios. Chikaq'ue xcacuub li kach'ôl chi kibil kib. Tento takabânu a'an xban nak chi sêb tol-êlk li Jesucristo.
26Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa,
26Cui junelic yôco chi mâcobc chi ac nakanau xyâlal li râtin li Dios, mâc'a' chic xcuybal li kamâc xban nak nakanau nak mâc yôco chixbânunquil.
27nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi.
27Cui junelic yôko chi mâcobc, ca'aj chic li rakba âtin ut lix xamlel li tojba mâc yôco chiroybeninquil bar cui' te'c'atek' li xic' neque'iloc re li Kâcua' Dios.
28Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót,
28Junxil inc'a' qui-ile' xtok'obâl ru li ani quik'etoc re xchak'rab laj Moisés. Cui cuan cuib malaj oxib li que'xye nak yâl nak xk'et li chak'rab, quirake' âtin sa' xbên ut que'xcamsi.
29huống chi kẻ giày đạp Con Ðức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Ðức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao?
29Numtajenak cui'chic ra te'xc'ul li neque'tz'ektânan re li Ralal li Dios ut neque'xsach xcuanquil lix quiq'uel xban nak riq'uin xquiq'uel li Jesucristo xakabanbil xcuanquil li ac' contrato ut santobresinbilo lâo. Numtajenak cui'chic ra te'xc'ul li neque'xmajecua li Santil Musik'ej li naq'uehoc ke li rusilal li Dios.
30Vì chúng ta biết Ðấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta; ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình.
30Lâo nakanau nak li Dios quixye chi jo'ca'in: Ca'aj cui' lâin naru tinq'uehok xtojbal rix lix mâqueb ut lâin tinrahobtesiheb riq'uin li c'a'ru quilaje'xbânu. Ut quixye cui'chic li Kâcua': Lâin tinrakok âtin sa' xbên lin tenamit. (Deut. 32:35-36)
31Sa vào tay Ðức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay!
31K'axal xucuajel nak târakok âtin li yo'yôquil Dios sa' xbêneb li neque'tz'ektânan re.
32Hãy nhớ lại những lúc ban đầu đó, anh em đã được soi sáng rồi, bèn chịu cơn chiến trận lớn về những sự đau đṀn:
32Aban chinak sa' êch'ôl chanru xec'ul junxil nak toje' xepâb li Cristo. Nabal chi raylal quilajêc'ul ut inc'a' xch'inan êch'ôl.
33phần thì chịu sỉ nhục, gặp gian nan, như làm trò cho thiên hạ xem, phần thì chia khổ với những kẻ bị đối đãi đồng một cách.
33Cuan sa' êyânk li xic' que'ile' ut que'hobe' chiruheb li tenamit. Ut lâex quextz'akon riq'uin li raylal li que'xc'ul.
34Vì anh em đã thương xót kẻ bị tù, và vui lòng chịu của cải mình bị cướp, bởi biết mình có của cải quí hơn hằng còn luôn.
34Lâex quiyot'e' êch'ôl chi rilbal lê rech aj pâbanelil li cuanqueb chi prêxil. Ut inc'a' quiraho' sa' lê ch'ôl nak quimak'e' chêru li c'a'ru êre xban nak nequenau nak sa' li choxa cuan êmâtan k'axal cui'chic lok'. Lê mâtan li cuan sa' choxa inc'a' nalaj inc'a' na-oso'.
35Vậy chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho.
35Jo'can nak cauhak taxak êch'ôl sa' lê pâbâl ut riq'uin a'an cuan êk'ajcâmunquil.
36Vì anh em cần phải nhịn nhục, hầu cho khi đã làm theo ý muốn Ðức Chúa Trời rồi, thì được như lời đã hứa cho mình.
36Lâex tento têcuy li c'a'ru na-ux êre re nak têbânu li naraj li Dios. Ut riq'uin a'an têc'ul li yechi'inbil êre xban li Dios.
37Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, Thì Ðấng đến sẽ đến; Ngài không chậm trễ đâu.
37Jo'ca'in tz'îbanbil sa' li Santil Hu: Chi sêb tol-êlk li Cristo. Inc'a' tâbâyk chak.
38Người công bình của ta sẽ cậy đức tin mà sống, Nhưng nếu lui đi thì linh hồn ta chẳng lấy làm đẹp chút nào.
38Li tîc xch'ôl xban inpâbanquil cuan xyu'am chi junelic. Cui naxcanab inpâbanquil, inc'a' tâsahok' inch'ôl riq'uin, chan li Dios. (Hab. 2:3-4)Aban, lâo mâcua'o xcomoneb li neque'xcanab xpâbanquil li Dios. Eb a'an te'xic sa' xbalba. Lâo nakapâb li Dios ut tocolek'.
39Về phần chúng ta, nào phải là kẻ lui đi cho hư mất đâu, bèn là kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi.
39Aban, lâo mâcua'o xcomoneb li neque'xcanab xpâbanquil li Dios. Eb a'an te'xic sa' xbalba. Lâo nakapâb li Dios ut tocolek'.