1Ôi! ước gì đầu tôi là suối nước, mắt tôi là nguồn lụy! hầu cho tôi vì những kẻ bị giết của con gái dân ta mà khóc suốt ngày đêm.
1Us raj cui lin jolom joß jun li yußam haß ut li xnakß cuu joß li haß li nabêc rok. Tinyâbak raj chi kßek chi cutan chirixeb li cuech tenamitil li queßcamsîc.
2Ôi! ước gì tôi có một cái quán khách bộ hành trong đồng vắng! để tôi được bỏ dân ta mà đi xa khỏi họ; vì họ thảy điều là kẻ tà dâm, ấy là một bọn quỉ trá.
2Cui cuan ta inmuhebâl saß li chaki chßochß bar târûk tincuânk cuiß, tinêlk raj saß xyânkeb lin tenamit xban nak moco châbileb ta. Chixjunileb nequeßbalakßic ut nequeßxlokßoni li jalanil dios, chan laj Jeremías.
3Chúng nó giương lưỡi mình như cái cung, đặng phát lời dối trá ra. Chúng nó ở trong xứ là mạnh lớn, mà chẳng làm sự chơn thật; bởi chúng nó làm ác càng thêm ác, và chẳng nhìn biết ta, Ðức Giê-hô-va phán vậy.
3Li Kâcuaß quixye: —Junelic sêbeb xchßôl chi ticßtißic lin tenamit. Chanchaneb li nequeßcutuc riqßuin tzimaj. Nequeßxqßue xcuanquil li ticßtiß ut incßaß nequeßxqßue xcuanquil li yâl. Numtajenak li mâusilal nequeßxbânu ut incßaß nequeßraj xqßuebal inlokßal, lâin li Kâcuaß.
4Ai nấy phải giữ gìn vì người lân cận mình, chớ tin cậy một người nào trong vòng anh em mình; vì mỗi người anh em sẽ lừa phỉnh anh em lắm, mỗi người lân cận đều đi dạo nói xấu.
4Incßaß naru têcßojob êchßôl riqßuineb lê ras êrîtzßin, usta nequeßxye nak eb aßan tzßakal êramîg. Chi moco târûk têcßojob êchßôl riqßuin lê ras ut lê rîtzßin xban nak li asbej ut li îtzßinbej nequeßbalakßin. Eb li amigo nequeßyoßoban ticßtiß.
5Ai nấy gạt gẫm kẻ lân cận mình, chẳng nói sự chơn thật. Chúng nó luyện tập lưỡi mình mà nói dối, chăm chỉ làm điều ác.
5Eb li ramîgueb rib nequeßxbalakßi ribeb chi ribileb rib. Ut mâ ani naxye li yâl. Queßcßay chi ticßtißic ut incßaß nequeßxcanab xbânunquil li mâusilal.
6Ðức Giê-hô-va phán: Ngươi ăn ở giữa sự dối trá; ấy cũng vì cớ sự dối trá mà chúng nó chẳng khứng nhìn biết ta.
6Cßajoß li rahobtesîc nequeßxbânu. Xban nak xnumta li balakßic nequeßxbânu, joßcan nak incßaß chic nequeßraj xpâbanquil nak lâin li Dios.—
7Vậy nên Ðức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nầy, ta sẽ làm cho tan chảy và thử chúng nó; vì nếu chẳng vậy thì xử với con gái dân ta thể nào?
7Joßcan nak li Kâcuaß naxye chi joßcaßin: —Chanchan nak numsinbil saß xam nak tinqßue li raylal saß xbêneb re nak teßxtau xnaßlebeb. Cui incßaß tinbânu chi joßcan, ¿cßaß chic ru târûk tinbânu reheb re teßusâk?
8Lưỡi chúng nó là tên độc, hay buông lời dối trá. Ngoài miệng thì chúc bình an cho kẻ lân cận mình, mà trong lòng thì gài bẫy.
8Lix tzßûmal reheb chanchan li tzimaj li nacamsin xban li balakßic nequeßxbânu. Riqßuin xtzßûmal reheb nequeßâtinac chi châbil riqßuineb li ras rîtzßin. Abanan saß xchßôleb nequeßxcßûb ru chanru teßxbalakßiheb.
9Ðức Giê-hô-va phán: Ta há chẳng thăm phạt chúng nó về mọi điều ấy sao? Thần ta há chẳng trả thù một nước dường ấy sao?
9¿Ma incßaß ta biß tinqßueheb chixtojbal lix mâqueb li tenamit aßin? ¿Ma incßaß ta biß tinqßue rêkaj reheb li mâusilal nequeßxbânu? Lâin li Kâcuaß ninyehoc re aßin.—
10Ta sẽ khóc lóc thở than về các núi, sẽ xướng bài ca sầu não về nội cỏ nơi đồng vắng, vì thảy đều bị đốt cháy, đến nỗi chẳng còn ai đi qua đó nữa. Tại đó chẳng còn nghe tiếng bầy súc vật, chim trời và loài thú đều trốn đi cả rồi.
10Laj Jeremías quixye: —Lâin tinyâbak chirix li cßaßru quixcßul li tzûl ut li pachßayaß. Xeßcana chi mâcßaß chic cuan chiru ut mâ ani chic nanumeß aran. Incßaß chic nequeßabîc chi yâbac li cuacax. Queßêlelic li xul li nequeßrupupic chiru choxa. Ut queßêlelic ajcuiß chixjunileb li joskß aj xul, chan.
11Ta sẽ khiến Giê-ru-sa-lem thành đồng đổ nát, nơi ở của chó rừng; sẽ làm cho các thành của Giu-đa ra hoang vu không người ở.
11Li Kâcuaß quixye: —Lâin tinsach ru li tenamit Jerusalén. Jucßbil chic tâcanâk chixjunil. Tâcanâk chokß xnaßajeb laj xoj. Chanchan chaki chßochß teßcanâk eb li tenamit li cuanqueb Judá. Mâ ani chic târûk tâcuânk saß li naßajej aßan, chan li Kâcuaß.
12Ai là người khôn ngoan đặng hiểu những sự nầy? và miệng Ðức Giê-hô-va nói cùng ai, để người báo tin? vì làm sao xứ nầy bị diệt bị cháy như đồng vắng, đến nỗi không ai qua lại?
12¿Ani ta biß târûk tixtau ru cßaßru xyâlal li yô chi cßulmânc? ¿Ma cuan ta biß junak quiqßueheß xnaßleb xban li Kâcuaß re târûk tixchßolob xyâlal? ¿Cßaßut nak quisach ru li naßajej aßin? Chanchan chic li chaki chßochß quicana. Ut mâ ani chic nanumeß aran, chan laj Jeremías.
13Ðức Giê-hô-va đáp rằng: Ấy là vì chúng nó bỏ luật pháp ta mà ta đã đặt cho; không vâng tiếng ta, và không bước theo.
13Ut li Kâcuaß quixye: —Xinbânu chi joßcan xban nak queßxtzßektâna li chakßrab li quinqßue reheb. Incßaß queßxbânu li cßaßru quinye reheb chi moco queßxbânu li cßaßru nacuaj.
14Nhưng chúng nó bước theo sự cứng cỏi của lòng mình, theo các thần Ba-anh mà tổ phụ mình đã dạy.
14Queßxbânu ban li cßaßru nequeßraj eb aßan xban xcacuilal xchßôleb. Ut queßxlokßoniheb li yîbanbil dios Baal joß quicßuteß chiruheb xban lix xeßtônil yucuaßeb.
15Vậy nên, Ðức Giê-hô-va vạn quân, Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, ta sẽ cho dân nầy ăn ngải cứu, và cho uống mật đắng.
15Joßcan nak lâin li nimajcual Dios, lix Dioseb laj Israel, tinqßue li raylal saß xbêneb. Chanchan nak tinqßue chixtzacaheb li cßahil tzacaêmk. Ut chanchan tinqßue li haß li banbil xsaß chiruqßueb.
16Ta sẽ làm cho chúng nó tan lạc trong các dân tộc mà chúng nó và tổ phụ mình chưa từng biết; ta sẽ sai gươm đuổi theo, cho đến chừng nào đã diệt chúng nó.
16Tinjeqßuiheb ru saß eb li jalan tenamit li mâ jun sut xnauhomeb, chi moco lix naß xyucuaßeb. Ut lâin tinqßueheb chi âlinâc riqßuin chßîchß toj retal mâ jun chic teßcanâk saß li tenamit.
17Ðức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Hãy lo gọi những đờn bà hay khóc mướn, cho chúng nó đến; hãy gọi những người đờn bà rất khéo, cho chúng nó đến.
17Ut li Kâcuaß li nimajcual Dios quixye ajcuiß: —Abihomak. Taklahomak xcßambaleb chak li ixk li nequeßxnau yâbac, eb li ixk li ac aßan ajcuiß xcßanjeleb.
18Chúng nó hãy vội vàng vì chúng ta rơi lụy, mí mắt chúng ta tràn nước ra!
18Eb li tenamit queßxye: —Châlkeb chi junpât chi yâbac chirix li cßaßru yôco chixcßulbal. Ut ocako chi yâbac. Choyâbak toj retal tâtßuluk li xyaßal ku.
19Vả, có tiếng phàn nàn nghe từ Si-ôn, rằng: Chúng ta bị hủy phá dường nào! Chúng ta bị xấu hổ lắm, vì chúng ta bỏ đất; vì họ đã phá đổ chỗ ở chúng ta!
19Toj aran Sión na-abîc li yâbac xban nak xo-osoß. Numtajenak li kaxutân xban nak tento nak takacanab li kanaßaj. Ut eb li kochoch juqßuinbil chic, chanqueb.
20Hỡi các đờn bà, hãy nghe lời của Ðức Giê-hô-va, tai các ngươi hãy nghe lời miệng Ngài phán! Hãy dạy cho các con gái các ngươi bài ca vãn; mỗi người hãy dạy cho kẻ lân cận mình khóc than!
20Laj Jeremías quixye: —Lâin quinye reheb, “Lâex ixk, abihomak li cßaßru naxye li Kâcuaß. Qßuehomak retal li naxye. Cßutumak chiruheb lê coß chanru teßyâbak. Ut cßutumak ajcuiß li bich re rahil chßôlej chiruheb lê ramîg.
21Vì sự chết đã lên vào cửa sổ chúng ta, đã sấn vào trong cung chúng ta, giết con cái tại ngoài đường, và kẻ trai trẻ giữa chợ.
21Li câmc xchal saß kabên. Chanchan nak x-oc saß li kaventana. Chanchan nak x-oc saß eb li cab li cauresinbil chi us re takacol cuiß kib. Queßcamsîc li cocßal saß be ut queßcamsîc li cuînk li toj sâjeb saß eb li cßayibâl.
22Ngươi hãy bảo rằng: Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Thây người ta sẽ ngã xuống như phân đổ đồng ruộng, và như nắm lúa đổ ra sau lưng con gặt; chẳng ai sẽ lượm chúng nó lại!
22Eb li camenak tßantßôqueb yalak bar. Chanchaneb li cßot saß li cßalebâl. Chanchan li ru trigo li natßaneß chirixeb li yôqueb chi sicßoc re ut mâ ani tâxocok re”, chan.
23Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Người khôn chớ khoe sự khôn mình; người mạnh chớ khoe sự mạnh mình; người giàu chớ khoe sự giàu mình.
23Li Kâcuaß quixye: —Li ani cuan xnaßleb mixnimobresi rib xban nak cuan xnaßleb, chi moco li cau rib tixnimobresi rib xban nak cau rib. Ut li biom incßaß tixnimobresi rib xban nak cuan xbiomal.
24Nhưng kẻ nào khoe, hãy khoe về trí khôn mình biết ta là Ðức Giê-hô-va, là Ðấng làm ra sự thương xót, chánh trực, và công bình trên đất; vì ta ưa thích những sự ấy, Ðức Giê-hô-va phán vậy.
24Li ani tixnimobresi rib, chixnimobresihak rib riqßuin nak naxnau nak lâin li Kâcuaß ut naxtau ru chanru lin naßleb. Nin-uxtânan u ut ninrakoc âtin saß tîquilal saß ruchichßochß. Aßan li nacuulac chicuu, chan li Kâcuaß.
25Ðức Giê-hô-va phán: Nầy, ngày đến, bấy giờ ta sẽ phạt mọi kẻ chịu cắt bì mà lòng chưa cắt bì:
25Li Kâcuaß quixye: —Tâcuulak xkßehil nak lâin tinqßueheb chixtojbal xmâqueb li tenamit li moco tîqueb ta xchßôl usta queßxcßul li circuncisión, usta incßaß.Tinqßueheb chixtojbal xmâqueb laj Egipto, eb laj Judá, eb laj Edom, ut eb laj Amón joß eb ajcuiß laj Moab. Tinqßueheb chixtojbal xmâqueb li cuanqueb saß najtil tenamit ut saß li chaki chßochß. Incßaß queßxcßul li circuncisión chixjunileb aßan. Joßcan eb ajcuiß laj Israel. Incßaß tîqueb xchßôl xban nak incßaß queßxjal xcßaßuxeb.—
26tức là Ê-díp-tô, Giu-đa, Ê-đôm, con cháu Am-môn, Mô-áp, và hết thảy những dân cạo tóc màng tang và ở nơi đồng vắng. Vì mọi dân tộc đều không cắt bì, còn cả nhà Y-sơ-ra-ên chẳng cắt bì trong lòng.
26Tinqßueheb chixtojbal xmâqueb laj Egipto, eb laj Judá, eb laj Edom, ut eb laj Amón joß eb ajcuiß laj Moab. Tinqßueheb chixtojbal xmâqueb li cuanqueb saß najtil tenamit ut saß li chaki chßochß. Incßaß queßxcßul li circuncisión chixjunileb aßan. Joßcan eb ajcuiß laj Israel. Incßaß tîqueb xchßôl xban nak incßaß queßxjal xcßaßuxeb.—