Vietnamese 1934

Kekchi

Judges

9

1A-bi-mê-léc, con trai Giê-ru-ba-anh, sang qua Si-chem, đến cùng các cậu và cả nhà ông ngoại mình, mà nói rằng:
1Laj Abimelec, li ralal laj Jerobaal, quicuulac Siquem chi âtinac riqßuineb li ras lix naß ut riqßuineb chixjunileb li cuanqueb saß rochoch lix yucuaß lix naß. Ut quixye reheb:
2Xin các ông hãy hỏi hết thảy người Si-chem, mà nói rằng: Hoặc tất cả bảy mươi người con trai Giê-ru-ba-anh cai trị trên các ngươi, hoặc chỉ một người làm vua của các ngươi, điều nào là tốt hơn? Cũng hãy nhớ rằng ta đồng cốt nhục với các ngươi.
2—Nintzßâma chêru nak têpatzß reheb chixjunileb li cuanqueb Siquem cßaßru li kßaxal us chokß reheb. ¿Ma us nak li lajêb xcâcßâl chi ralal laj Jerobaal teßtaklânk saß xbêneb? ¿Malaj ut us nak jun ajcuiß tâtaklânk saß xbêneb? Chijulticokß êre nak lâin lê comon, chan.
3Các cậu người nói giùm người, đem các lời nầy thuật lại cho hết thảy dân Si-chem nghe, và lòng chúng nghiêng về A-bi-mê-léc, vì chúng nói rằng: Người là anh em ta.
3Eb li ras lix naß laj Abimelec queßxserakßi chixjunil aßin reheb li cuanqueb Siquem. Ut queßxcßul xchßôleb nak laj Abimelec tâtaklânk saß xbêneb xban nak aßan xcomoneb, chanqueb.
4Chúng bèn ban cho người bảy mươi miếng bạc của miếu Ba-anh-Bê-rít; A-bi-mê-léc lấy bạc đó mướn những kẻ bại hoại hoang đàng đi theo mình.
4Queßrisi lajêb xcâcßâl chi tumin plata saß li rochoch li yîbanbil dios Baal-berit ut queßxsi re laj Abimelec. Laj Abimelec quixsiqßueb li cuînk li incßaß useb xnaßleb, li junes subuc cutan nequeßxbânu, ut riqßuin li tumin aßan quixtojeb chixtenkßanquil.
5Ðoạn, người đi đến nhà cha mình tại Oùp-ra, và trên một hòn đá, giết các anh em mình, tức những con trai của Giê-ru-ba-anh, số là bảy mươi người. Chỉ một mình Giô-tham, con út của Giê-ru-ba-anh, còn sống, bởi vì chàng ẩn mình.
5Queßcôeb aran Ofra saß li rochoch laj Jerobaal lix yucuaß. Ut aran chiru jun chi pec queßxcamsiheb li lajêb xcâcßâl chi ralal laj Jerobaal, rîtzßineb rib riqßuin laj Abimelec. Caßaj cuiß laj Jotam li îtzßinbej quixmuk rib. Joßcan nak quicoleß.
6Bấy giờ, hết thảy những người Si-chem nhóm hiệp với cả họ Mi-lô, đi đến cây dẻ bộp bia-đá ở tại Si-chem, mà tôn A-bi-mê-léc làm vua.
6Chirix chic aßan, chixjunileb li cuanqueb Siquem queßxjunaji ribeb riqßuineb li cuanqueb Bet-milo ut queßcôeb bar cuan cuiß li cheß ji ut li pec li quixakabâc aran Siquem. Ut aran queßxxakab laj Abimelec chokß xreyeb.
7Giô-tham hay đặng điều đó, bèn đi lên đứng trên chót núi Ga-ri-xim, cất tiếng la rằng: Hỡi người Si-chem, hãy nghe ta, và nguyện Ðức Chúa Trời nghe các ngươi!
7Nak laj Jotam quirabi resil li queßxbânu, quitakeß saß xbên li tzûl Gerizim. Ut toj aran quixjap chak re chixyebal: —Ex cuînk aj Siquem, cherabihak li cßaßru oc cue chixyebal ut chirabihak ta ajcuiß li Dios li cßaßru têye lâex.
8Các cây cối đều đi đặng xức dầu cho một vua cai trị chúng nó. Chúng nó nói cùng cây ô-li-ve rằng: Hãy cai trị chúng tôi.
8Saß jun li cutan queßxchßutub ribeb li cheß re nak teßxxakab junak lix reyeb, ut queßxye re li cheß olivo, “Tatkaxakab chi taklânc saß kabên”, chanqueb.
9Cây ô-li-ve đáp: Ta há sẽ bỏ dầu ta mà Ðức Chúa Trời và loài người đều tôn vinh, đặng đi xao động trên các cây cối ư?
9Quichakßoc li cheß olivo ut quixye: ¿Ma tincanab ta biß xqßuebal li aceite li na-el saß lin cheßel yal re nak tinxic chi cßanjelac chokß êrey? Li aceite li ninqßue lâin, aßan nacßanjelac chiru li Dios ut chiruheb li cuînk, chan li cheß olivo.
10Các cây cối lại nói cùng cây vả rằng: Hãy đến cai trị chúng tôi.
10Ut eb li cheß queßxye re li cheß higo: —Tatkaxakab lâat chokß karey, chanqueb re li higo.
11Nhưng cây vả đáp rằng: Ta há sẽ bỏ sự ngọt ngon và trái tươi tốt ta đặng đi xao động trên các cây cối ư?
11Ut li cheß higo quixye reheb: —Lâin incßaß naru nincanab rûchininquil li quißil kßên kßaxal châbil yal re nak tincßanjelak chokß êrey lâex, chan.
12Ðoạn, các cây cối nói cùng cây nho rằng: Hãy đến cai trị chúng tôi.
12Ut eb li cheß queßxye re lix cheßel li uvas: —Lâat tatkaxakab chokß karey, chanqueb.
13Nhưng cây nho đáp: Ta há sẽ bỏ rượu ngon ta, là thứ làm cho vui Ðức Chúa Trời và người ta, đặng đi xao động trên các cây cối ư?
13Aßut lix cheßel li uvas quixye reheb: —¿Cßaßut? ¿Ma naru ta biß tincanab xqßuebal li vino li nasahoß cuiß xchßôl li Kâcuaß ut eb li cuînk yal re nak tincßanjelak chokß êrey? chan.
14Bấy giờ, hết thảy cây cối nói cùng gai góc rằng: Hãy đến cai trị chúng tôi.
14Tojoßnak eb li cheß queßxye re li tun qßuix: —Lâat tatkaxakab chokß karey, chanqueb.
15Gai góc đáp cùng các cây cối rằng: Nếu bởi lòng chơn thật mà các ngươi muốn xức dầu ta làm vua các ngươi, thì hãy đến núp dưới bóng ta; bằng không, nguyện lửa ra từ gai và thiêu nuốt cây bá hương Li-ban đi!
15Ut li tun qßuix quixye reheb: —Cui yâl nak lâex têraj nak lâin tin-oc chokß êrey, quimkex biß anakcuan. Qßuehomak êrib chi rubel lin mu. Cui ut incßaß nequeraj chi joßcan, chiêlk li xam cuiqßuin ut chixcßatak li chacalteß re Líbano, chan.
16Bây giờ, có phải các ngươi cư xử chơn thật và công bình mà tôn A-bi-mê-léc làm vua chăng? Các ngươi có hậu đãi Giê-ru-ba-anh và nhà người chăng? Có báo đáp điều người đã làm cho các ngươi chăng?
16Ut laj Jotam quixpatzß reheb: —¿Ma chi anchal êchßôl ut ma saß xyâlal xexakab laj Abimelec chokß rey? ¿Ma xebânu usilal re laj Gedeón ut reheb li ralal xcßajol joß nak laj Gedeón quixbânu usilal êre lâex?
17Vì cha ta có tranh chiến cho các ngươi, liều mình mà giải cứu các ngươi khỏi tay dân Ma-đi-an.
17Laj Gedeón lin yucuaß incßaß quixra lix yußam nak cô chi pletic riqßuineb laj Madián re êcolbal lâex.
18Nhưng ngày nay các ngươi lại dấy lên cùng nhà cha ta, đã giết trên một hòn đá các con trai người, số là bảy mươi người, và lấy A-bi-mê-léc, con trai của con đòi người, mà tôn lên làm vua của dân Si-chem, vì hắn là anh em các ngươi.
18Abanan anakcuan lâex xebânu mâusilal reheb li ralal lin yucuaß. Chiru jun chi pec xecamsiheb li lajêb xcâcßâl chi ralal laj Gedeón. Ut xexakab laj Abimelec chokß êrey, xban nak aßan êrechßalal. Aßan ralal laj Gedeón riqßuin jun lix môs ixk.
19Vậy, ví bằng ngày nay các ngươi có lấy sự chơn thật và chánh trực mà đãi Giê-ru-ba-anh và nhà người, thì A-bi-mê-léc khá vui mừng nơi các ngươi, và các ngươi hãy vui mừng nơi hắn!
19Cui xexcuan saß xyâlal riqßuin laj Gedeón ut riqßuineb li ralal xcßajol chiru li cutan aßin, naru texcuânk chi sa saß êchßôl riqßuin laj Abimelec. Ut laj Abimelec chicuânk chi sa saß xchßôl êriqßuin.
20Bằng chẳng, nguyện lửa ra từ A-bi-mê-léc thiêu nuốt những người Si-chem cùng họ Mi-lô; và nguyện lửa ra từ những người Si-chem cùng họ Mi-lô mà thiêu nuốt A-bi-mê-léc!
20Cui ut incßaß xexcuan saß xyâlal, chiêlk ta xam riqßuin laj Abimelec ut cheßcßatk ta chixjunileb li cuînk aj Siquem ut eb laj Bet-milo. Ut chiêlk ta xam riqßuineb laj Siquem ut eb laj Bet-milo ut chicßatk ta laj Abimelec, chan laj Jotam.
21Ðoạn, Giô-tham trốn, đi ẩn náu tại Bê-rê, và ở đó, vì sợ A-bi-mê-léc, anh mình.
21Ut xban nak laj Jotam quixucuac chiru laj Abimelec li ras, joßcan nak quiêlelic chiru ut cô chi cuânc saß li tenamit Beer.
22A-bi-mê-léc cai trị Y-sơ-ra-ên trong ba năm.
22Oxib chihab queßcuan laj Israel rubel xcuanquilal laj Abimelec.
23Ðoạn, Ðức Chúa Trời sai đến một ác thần sanh sự bất bình giữa A-bi-mê-léc và người Si-chem; người Si-chem bèn phản nghịch cùng A-bi-mê-léc,
23Ut li Dios quixtakla jun chßaßajquilal saß xbêneb laj Abimelec ut eb laj Siquem re nak xicß chic teßril ribeb chi ribileb rib. Ut eb laj Siquem queßxkßetkßeti ribeb chiru laj Abimelec.
24để báo thù tội sát nhơn đã phạm cùng bảy mươi con trai Giê-ru-ba-anh, và khiến huyết họ đổ lại trên A-bi-mê-léc, là anh đã giết họ, cùng đổ trên người Si-chem đã giúp hắn giết anh em mình.
24Li Dios quixbânu chi joßcan re nak laj Abimelec rochbeneb li cuînk aj Siquem teßxtoj rix li mâc li queßxbânu nak queßxcamsiheb li lajêb xcâcßâl chi ralal laj Jerobaal.
25Người Si-chem sai mấy kẻ đi rình rập người trên chót núi; chúng nó cướp giựt những kẻ đi qua đường gần bên chúng nó. A-bi-mê-léc hay được điều đó.
25Eb laj Siquem queßxxakabeb li cuînk re nak teßxmuk ribeb saß eb li tzûl. Ut queßrelkßa chixjunil li cßaßru cuan reheb li nequeßnumeß aran. Abanan laj Abimelec quirabi resil li cßaßru yôqueb chixbânunquil.
26Bấy giờ, Ga-anh, con trai Ê-bết, cùng anh em mình đến vào trong Si-chem; người Si-chem đều để lòng tin cậy nơi người.
26Laj Gaal, li ralal laj Ebed, cô chi cuânc Siquem rochbeneb li ras ut eb li rîtzßin. Ut eb laj Siquem queßxserakßi re li cßaßru yôqueb chixbânunquil.
27Rồi chúng ra ngoài đồng, hái những vườn nho của mình, đạp trái nho, và dự tiệc yến. Ðoạn, họ vào trong đền thờ của thần chúng, ăn và uống, rồi rủa sả A-bi-mê-léc.
27Queßcôeb chixsicßbal ru li uvas ut queßxyatzß re risinquil lix yaßal. Chirix aßan queßxbânu jun li ninkße saß rochoch lix dioseb. Nak yôqueb chi cuaßac ut chi ucßac, yôqueb chixmajecuanquil laj Abimelec.
28Ga-anh, con trai Ê-bết, bèn nói rằng: A-bi-mê-léc là ai, Si-chem là chi mà chúng ta phục sự A-bi-mê-léc? Hắn há chẳng phải là con trai Giê-ru-ba-anh sao? Còn Xê-bun, há chẳng phải là kẻ phụ tá hắn ư? Các ngươi khá phục sự những người Hê-mô, là cha của Si-chem; còn chúng ta sao lại phục sự hắn?
28Ut laj Gaal, ralal laj Ebed, quixye: —¿Ani laj Abimelec ut aniho lâo nak takaqßue kib rubel xtakl? ¿Ma mâcuaß ta biß laj Abimelec ralal laj Jerobaal? Ut laj Zebul cuan rubel xtakl. ¿Cßaßut nak tocßanjelak chiru aßan? Tocßanjelak ban chiruheb li ralal xcßajol laj Hamor li quiyîban re li tenamit aßan.
29Ồ! nếu ta có dân sự nầy dưới tay ta, ta sẽ đuổi A-bi-mê-léc đi! Ðoạn, người nói cùng A-bi-mê-léc rằng: Hãy gia tăng quân lính ngươi mà ra trận!
29Cui ta lâin nintaklan saß êbên, ac xkasach raj ru laj Abimelec. Ac raj xinye re nak tixcauresiheb lix soldado re teßchâlk chi pletic kiqßuin, chan laj Gaal.
30Xê-bun, quan cai thành, nghe được các lời của Ga-anh, con trai Ê-bết nói, thì cơn giận người phừng lên,
30Nak quirabi resil li cßaßru quixye laj Gaal, ralal laj Ebed, cßajoß nak quijoskßoß laj Zebul li nataklan saß xbêneb li tenamit aßan.
31mật sai sứ đến A-bi-mê-léc, mà nói rằng: Nầy Ga-anh, con trai Ê-bết, và anh em nó đã đến Si-chem, xui giục thành dấy nghịch cùng ông.
31Saß mukmu quixtakla resil riqßuin laj Abimelec ut quixye re: —Laj Gaal, ralal laj Ebed, rochbeneb li ras ut eb li rîtzßin cuanqueb arin Siquem ut yôqueb chixtacchißinquileb li tenamit re nak incßaß chic teßabînk châcuu.
32Vậy, đêm nay ông và các người theo ông phải chổi dậy, đi phục binh ngoài đồng.
32Joßcan nak chiru li kßojyîn aßin lâat âcuochbeneb li soldados texchâlk ut têmuk êrib chire li tenamit.
33Ðến sáng mai khi mặt trời mọc, ông phải dậy sớm, xông hãm thành. Khi Ga-anh và quân theo nó ra đánh ông, thì ông hãy tùy cơ mà làm.
33Nak tâsakêuk cuulaj texcuaclîk ut tex-oc chi pletic saß li tenamit. Nak teßêlk laj Gaal rochbeneb lix soldado, lâat tâcuil cßaßru tâbânu riqßuineb, chan.
34Vậy, A-bi-mê-léc và cả đạo binh theo người đều chổi dậy ban đêm, chia ra làm bốn đội, và mai phục gần Si-chem.
34Joßcan nak chiru kßojyîn laj Abimelec rochbeneb lix soldado queßcôeb chire li tenamit Siquem ut queßxmuk ribeb chirix li tenamit. Câhib chßûtal queßel nak queßxjachi ribeb.
35Ga-anh, con trai Ê-bết, kéo ra và đứng tại cửa thành; A-bi-mê-léc và cả đạo binh theo người bèn đi ra khỏi nơi phục.
35Nak laj Gaal qui-el ut quixakli chire li oquebâl re li tenamit, laj Abimelec ut eb li soldado queßel chak saß eb li naßajej li mukmûqueb cuiß.
36Ga-anh thấy đạo binh ấy, nói cùng Xê-bun rằng: Ta thấy một đạo binh từ trên chót núi xuống. Xê-bun đáp: Người thấy bóng núi mà tưởng là người ta đó chớ!
36Laj Gaal quirileb ut quixye re laj Zebul: —¡Il! Cuanqueb cuînk yôqueb chak chi cubec saß li tzûl, chan. Ut laj Zebul quixye: —Mâcuaßeb cuînk nacacuil. Yal mu nacßutun saß li tzûl, chan.
37Nhưng Ga-anh lại tiếp rằng: Quả thật một cơ binh ở trên núi xuống, và một đội do đường cây dẻ bộp thuật sĩ mà đến.
37Laj Gaal quixye cuißchic: —Yâl nak cuînk yôqueb chak chi cubec saß li tzûl. Ut yôqueb ajcuiß chi châlc saß li be cuan cuiß li ji li nequeßcuan cuiß laj kße, chan.
38Xê-bun bèn la lên rằng: Chính ngươi đã nói: A-bi-mê-léc là ai mà ta phục sự hắn! Vậy, những lời khoe khoang của ngươi đó đã ra sao? Ðó chẳng phải đạo binh mà người khinh dể ư? Bây giờ, khá đi ra giao chiến cùng chúng nó!
38Laj Zebul quixye re: —¿Ma incßaß ta biß cau âcuib? ¿Ma incßaß ta biß yôcat chixhobbal laj Abimelec nak xaye, “¿Cßaßru aj e nak tocßanjelak chiru aßan?” chancat. Ayu chi pletic riqßuineb anakcuan, chan laj Zebul.
39Ga-anh bèn đứng đầu các người Si-chem, đi ra giao chiến cùng A-bi-mê-léc.
39Ut laj Gaal quicßamoc be chiruheb li cuînk aj Siquem nak queßcôeb chi pletic riqßuineb laj Abimelec.
40Ga-anh bị A-bi-mê-léc đuổi theo, chạy trốn trước mặt người, và nhiều người bị thương ngã chết dọc đường, cho đến cửa thành.
40Laj Abimelec quirâlinaheb laj Gaal ut nabaleb queßcam nak yôqueb chi xic saß li oquebâl re li tenamit.
41A-bi-mê-léc đi ở tại A-ru-ma. Còn Xê-bun đuổi Ga-anh và anh em người đi, không cho ở tại Si-chem nữa.
41Ut laj Abimelec quicana chi cuânc saß li tenamit Aruma. Ut laj Zebul quirisi laj Gaal saß li tenamit Siquem rochbeneb li ras ut eb li rîtzßin re nak incßaß chic teßcuânk aran.
42Qua ngày sau, dân sự đi ra ngoài đồng, có người đem tin đó cho A-bi-mê-léc hay.
42Cuulajak chic laj Abimelec quirabi resil nak eb laj Siquem teßxic saß li cßalebâl.
43Người bèn bắt cơ binh mình chia ra làm ba đội, để mai phục ngoài đồng. Khi thấy dân sự ở thành kéo ra, người liền chổi dậy và hãm đánh chúng nó.
43Joßcan nak quixjachi lix soldado chi oxib chßûtal ut quixtaklaheb chixmukbal ribeb saß li cßalebâl roybeninquil nak teßêlk saß li tenamit Siquem. Nak queßel saß li tenamit, eb laj Abimelec queßel saß lix naßajeb ut queßxcamsiheb.
44Ðoạn A-bi-mê-léc và những kẻ đi theo lướt đến trước, dừng lại tại cửa thành; còn hai đội kia xông vào hết thảy người ở ngoài đồng, và đánh giết họ.
44Nak eb laj Abimelec ut eb li soldado li cuanqueb rochben yôqueb chi oc chi pletic saß li tenamit, li cuib chßûtal chic chi soldado yôqueb chixcamsinquileb li cuanqueb saß cßalebâl.
45A-bi-mê-léc hãm đánh thành trọn ngày, bèn chiếm lấy và giết hết thảy người ở trong, rồi phá thành và rắc muối ở đó.
45Chiru chixjunil li cutan yôqueb chi pletic toj retal nak laj Abimelec quinumta saß xbêneb laj Siquem. Quixcamsiheb ut quixjucß li tenamit ut quixpaji atzßam saß li naßajej aßan.
46Nghe tin nầy, hết thảy dân sự ở tháp Si-chem đều rút về trong đồn của miếu thần Bê-rít.
46Nak eb li cuanqueb saß li cab li najt xteram queßrabi li cßaßru yô chi cßulmânc, queßcube ut queßcôeb chixcolbal ribeb saß li cab cuan cuiß laj Baal-berit, lix dioseb.
47Người ta đem tin cho A-bi-mê-léc hay rằng hết thảy dân sự tháp Si-chem đều hiệp lại tại trong đồn.
47Ut laj Abimelec quirabi resil nak chßutchßûqueb aran.
48A-bi-mê-léc bèn đi lên núi Sanh-môn với cả đạo binh theo mình. Người cầm lấy nơi tay một cái rìu chặt một nhánh cây, đỡ nó lên và vác trên vai; rồi nói cùng quân theo mình rằng: Các ngươi có thấy điều ta làm chăng? Hãy mau mau làm như ta.
48Cô rochbeneb lix soldado saß li tzûl Salmón. Quixchap lix mâl laj Abimelec ut quixyocß jun li rukß cheß ut quixqßue saß xbên xtel. Quixye reheb li rochben: —Chebânu joß xinbânu lâin. Ut sêbahomak êrib, chan.
49Vậy, mỗi người chặt một nhánh cây, rồi đi theo A-bi-mê-léc. Họ dựng sắp nhánh cây đó nơi đồn, châm lửa vào, và thiêu đồn cùng những người ở trong. Như vậy hết thảy những người ở tháp Si-chem, nam và nữ, đều chết, số ước một ngàn.
49Ut chixjunileb queßxyocß li rukß cheß ut queßxpako saß xbên xteleb ut queßcôeb chirix laj Abimelec saß li cab li chßutchßûqueb cuiß laj Siquem. Queßxqßue li rukß cheß chirix li cab ut queßxloch xxamlel ut queßcßateß li cuanqueb chi saß. Joßcan nak queßcam li cristian li cuanqueb Siquem. Numenak tana jun mil li queßcam, joß cuînk, joß ixk.
50A-bi-mê-léc liền đi đánh Thê-bết, vây và chiếm lấy nó.
50Chirix chic aßan laj Abimelec queßcôeb toj saß li tenamit Tebes ut queßxtiquib pletic toj retal queßrêchani li tenamit.
51Giữa thành phố có một cái tháp vững bền, hết thảy dân sự của thành, nam và nữ, đều chạy vô núp tại đó, và đóng cửa lại, rồi lên trên đỉnh tháp.
51Saß li tenamit aßan cuan jun li nimla cab najt xteram re teßxcol cuiß ribeb. Chixjunileb li cuanqueb saß li tenamit queßcôeb aran, joß cuînk, joß ixk. Ut queßcôeb ajcuiß eb li nequeßtaklan saß li tenamit aßan. Queßxqßue saß lau lix puertil ut queßtakeß saß xbên li cab.
52A-bi-mê-léc tấn tới tháp, xông hãm nó, và đi lại gần cửa đặng phóng hỏa.
52Laj Abimelec cô cuan cuiß li oquebâl re li cab aßan re tixcßat.
53Nhưng một người nữ ném thớt cối trên đầu A-bi-mê-léc làm bể sọ người.
53Abanan jun li ixk quixcut jun tokol li pec re li molino. Li pec aßan quinak saß xjolom laj Abimelec ut quijoreß lix jolom.
54Người bèn kêu gã trai trẻ cầm binh khí hầu mình, mà nói rằng: Hãy rút gươm ngươi ra giết ta đi, kẻo người ta nói: một người đờn bà đã giết người! Vậy, gã trai trẻ bèn đâm người, thì người chết.
54Laj Abimelec quixbok saß junpât li cuînk li nacßamoc re lix chßîchß ut quixye re: —Isi chak lâ chßîchß ut tinâcamsi re nak mâ ani tâyehok re nak ixk xcamsin cue, chan. Ut li cuînk quixnumsi lix chßîchß saß xsaß. Joßcaßin nak quicam laj Abimelec.
55Khi người Y-sơ-ra-ên thấy A-bi-mê-léc đã chết, thì mỗi người đi về nhà mình.
55Nak queßxqßue retal laj Israel nak ac xcam laj Abimelec, queßsukßi cuißchic saß li rochocheb.
56Như vậy, Ðức Chúa Trời báo ứng A-bi-mê-léc vì tội ác hắn đã phạm cùng cha mình mà giết bảy mươi người anh em mình.
56Joßcaßin nak quiqßueheß laj Abimelec xban li Dios chixtojbal rix li mâc quixbânu chiru lix naß xyucuaß nak quixcamsiheb li lajêb xcâcßâl li ras ut li rîtzßin.Ut li Dios quixqßueheb ajcuiß chixtojbal rix lix mâqueb li cuînk li cuanqueb Siquem. Queßxcßul joß quixye laj Jotam li ralal laj Jerobaal.
57Ðức Chúa Trời cũng báo ứng dân Si-chem vì mọi điều ác mà chúng nó làm. Sự rủa sả của Giô-tham, con trai Giê-ru-ba-anh, ứng nghiệm trên chúng nó là như vậy.
57Ut li Dios quixqßueheb ajcuiß chixtojbal rix lix mâqueb li cuînk li cuanqueb Siquem. Queßxcßul joß quixye laj Jotam li ralal laj Jerobaal.