1Ðức Giê-hô-va là lớn, rất đáng được ngợi khen Trong thành của Ðức Chúa Trời chúng ta, và tại trên núi thánh Ngài.
1Kßaxal nim lix cuanquil li Kâcuaß ut xcßulub nak teßxqßue lix lokßal saß lix tenamit li kaDios ut saß li santil tzûl Sión xcßabaß.
2Núi Si-ôn đẹp đẽ nổi lên về phía bắc, là kinh đô của Vua cao cả, Và là sự vui vẻ của cả thế gian.
2Cßajoß xchßinaßusal li tzûl aßin najt xteram li cuan saß li norte. Chixjunileb nequeßsahoß saß xchßôleb chi rilbal li tzûl Sión li cuan saß lix tenamit li Rey li kßaxal nim xcuanquil.
3Trong những đền các thành ấy, Ðức Chúa Trời đã tỏ mình ra Như một nơi nương náu.
3Li Dios cuan saß li tenamit Jerusalén ut naßno ru nak aßan nacoloc re li tenamit aßan.
4Vì kìa, các vua đã hẹn hò, Cùng nhau đi qua.
4Li cuanqueb xcuanquil saßeb li tenamit queßxchßutub ribeb ut queßchal chi pletic re nak teßrêchani li naßajej aßan.
5Họ thấy đến, bèn sững sờ, Bối rối, rồi mau mau chạy trốn.
5Abanan nak queßril li tenamit Jerusalén, queßsach xchßôleb. Queßxucuac ut queßêlelic.
6Tại nơi đó sự run rẩy áp hãm họ. Họ bị đau đớn khác nào đờn bà sanh đẻ.
6Nequeßsicsot queßcana xban xxiuheb ut queßoc chirecßanquil jun li raylal. Chanchan xraylal junak ixk oc re chi qßuirâc.
7Chúa dùng ngọn gió đông Ðánh bể các tầu Ta-rê-si.
7Queßxcßul joß queßxcßul li nînki jucub reheb laj Tarsis nak quilajeßsacheß xban li cacuil ikß li quichal chak saß releb sakße, li taklanbil chak xban li Dios.
8Ðiều chúng tôi có nghe nói, thì đã thấy Trong thành của Ðức Giê-hô-va vạn quân, Tức là trong thành của Ðức Chúa Trời chúng tôi: Ðức Chúa Trời lập thành ấy vững chắc đời đời.
8Lâo quikabi nak li Kâcuaß Dios li kßaxal nim xcuanquil, aßan li nacoloc re lix tenamit. Ut anakcuan xkil nak naxbânu li cßaßru quiyeheß ke. Li Kâcuaß tâcolok re lix tenamit chi junelic.
9Hỡi Ðức Chúa Trời, tại giữa đền thờ Chúa, Chúng tôi có tưởng đến sự nhơn từ của Chúa.
9At kaDios, nak cuanco saß lâ cuochoch, nanak saß kachßôl nak junelic nacacuuxtâna ku. Mâ jokße nasach saß kachßôl nak nocoâra.
10Hỡi Ðức Chúa Trời, danh Chúa thể nào, Thì sự ngợi khen Chúa thể ấy cho đến các đầu cùng trái đất; Tay hữu Chúa đầy dẫy sự công bình.
10At kaDios, lokßoninbilat xbaneb li tenamit yalak bar. Nimanbil lâ cßabaß saß chixjunil li ruchichßochß. Ut saß tîquilal nacattaklan saß xbêneb.
11Vì cớ sự đoán xét của Chúa, Nguyện núi Si-ôn vui vẻ, Các con gái Giu-đa mừng rỡ.
11Chisahokß taxak saß xchßôleb li cuanqueb saß li tzûl Sión. Ut cheßsahokß ta ajcuiß saß xchßôleb li cuanqueb saß eb li tenamit xcuênt Judá xban nak saß tîquilal nacattaklan.
12Hãy đi xung quanh Si-ôn, hãy dạo vòng thành, Ðếm các ngọn tháp nó;
12Ex xtenamit li Dios, chesuti li naßajej Sión ut qßuehomak retal chanru cuan. Cherajla jarub lix torre cuan re xcolbal li tenamit.
13Hãy chăm xem các đồn lũy, Xem xét các đền nó, Hầu cho các ngươi thuật lại cho dòng dõi sẽ đến.
13Qßuehomak retal li tzßac li sutsu cuiß ut qßuehomak retal chanruheb li palacio re nak târûk têserakßi reheb lê ralal êcßajol li teßcuânk mokon.Serakßihomak reheb lê ralal êcßajol nak li Kâcuaß, aßan li kaDios chi junelic kße cutan ut aßan li naberesin ke chi junelic.
14Vì Ðức Chúa Trời nầy là Ðức Chúa Trời chúng tôi đến đời đời vô cùng; Ngài sẽ dẫn chúng tôi cho đến kỳ chết.
14Serakßihomak reheb lê ralal êcßajol nak li Kâcuaß, aßan li kaDios chi junelic kße cutan ut aßan li naberesin ke chi junelic.