Vietnamese 1934

Kekchi

Psalms

69

1Ðức Chúa Trời ôi! xin cứu tôi, Vì những nước đã thấu đến linh hồn tôi.
1Chinâcol, at Kâcuaß. Incßaß chic nincuy li raylal. Chanchan li yôquin chi subûnc saß li haß.
2Tôi lún trong bùn sâu, nơi không đụng cẳng; Tôi bị chìm trong nước sâu, dòng nước ngập tôi.
2Chanchan yôquin chi subûnc saß lix sâb haß ut mâ bar chic nintau xnaßaj li cuok. Chanchan cuanquin saß xchamal li haß ut yô chincßambal lix cacuil rok li nimaß.
3Tôi la mệt, cuống họng tôi khô; Mắt tôi hao mòn đương khi trông đợi Ðức Chúa Trời tôi.
3Xinlub chixtzßâmanquil intenkßanquil ut xtzßap saß incux xban nak japjo cue. Ut li xnakß cuu incßaß chic saken nequeßiloc xban li yâbac. Yôquin chiroybeninquil intenkßanquil âcuiqßuin lâat, at inDios.
4Những kẻ ghen ghét tôi vô cớ Nhiều hơn số tóc đầu tôi; Những kẻ làm thù nghịch tôi vô cớ và muốn hại tôi thật mạnh; Tôi phải bồi dưỡng điều tôi không cướp giựt.
4Nabaleb li xicß nequeßiloc cue. Kßaxal cuißchic nabaleb chiru xqßuial li cuismal. Nequeßnumta saß inbên. Nequeßraj insachbal usta mâcßaß inmâc chiruheb. ¿Ma târûk ta biß tinkßajsi reheb li incßaß xcuelkßa chiruheb?
5Ðức Chúa Trời ôi! Chúa biết sự ngu dại tôi, Các tội lỗi tôi không giấu Chúa được.
5At inDios, lâat nacanau nak yibru xinbânu. Moco mukmu ta lin mâc châcuu.
6Hỡi Chúa Giê-hô-va vạn quân, Nguyện những kẻ trông đợi Chúa chớ bị hổ thẹn vì cớ tôi; Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ôi! Nguyện kẻ nào tìm cầu Chúa chớ bị sỉ nhục tại vì việc tôi.
6At Kâcuaß, at nimajcual Dios, incßaß taxak xutânal teßxcßul inban lâin li cßojcßôqueb xchßôl âcuiqßuin. At Kâcuaß, lâat lix Dioseb laj Israel. Incßaß taxak teßchßinânk xchßôleb inban lâin li nequeßsicßoc âcue.
7Ấy vì Chúa mà tôi đã mang sự nhuốc nhơ, Và bị sự hổ thẹn bao phủ mặt tôi.
7At inDios, saß âcßabaß lâat nincßul raylal ut nincßul hobecß ut nequeßxcßut inxutân riqßuin li nequeßxbânu cue.
8Tôi đã trở nên một kẻ lạ cho anh em tôi, Một người ngoại bang cho các con trai mẹ tôi.
8Eb li cuas chanchan incßaß nequeßxnau cuu ut chanchan li jalan intenamit nak niquineßril.
9Vì sự sốt sắng về đền Chúa tiêu nuốt tôi, Sự sỉ nhục của kẻ sỉ nhục Chúa đã đổ trên tôi.
9Cßajoß nak ninra lâ cuochoch ut nayotßeß inchßôl nak nequeßxbânu li incßaß us saß lâ cuochoch. Saß inbên quinak lâ majecuanquil li queßxbânu eb li queßhoboc âcue.
10Tôi khóc và nhịn ăn để ép linh hồn tôi, Thì điều đó cũng trở làm sỉ nhục tôi.
10Nak xinbânu lin ayûn, xineßxhob. Ut nak xinyâbac, xineßxseße.
11Tôi lấy bao gai mặc làm áo xống, Bèn trở nên câu tục ngữ cho chúng nó.
11Nak xcuocsi li kßes ru tßicr retalil xrahil inchßôl, cßajoß nak xeßâtinac chicuix.
12Những kẻ ngồi nơi cửa thành trò chuyện về tôi; Tôi là đề câu hát của những người uống rượu.
12Niquineßxhob li nequeßcßojla chire li oquebâl ut eb li calajenak niquineßxhob nak nequeßbichan.
13Nhưng Ðức Giê-hô-va ơi, tôi nhờ dịp tiện Mà cầu nguyện cùng Ngài. Ðức Chúa Trời ơn, theo sự thương xót lớn của Chúa, Và theo lẽ thật về sự cứu rỗi của Chúa, xin hãy đáp lại tôi.
13Abanan lâin, at Kâcuaß, nintijoc châcuu nak yôquin chixcßulbal li raylal. At inDios, chinâtenkßa anakcuan. Xban xnimal lâ cuuxtân, chinâcuabi ut chinâcol.
14Xin hãy cứu tôi khỏi vũng bùn, kẻo tôi lún chăng; Nguyện tôi được giải thoát khỏi những kẻ ghét tôi, và khỏi nước sâu.
14Chanchan nak yôquin chi osocß saß xchamal li sulul ut saß xchamal li nimaß nak yôquin chi osocß xban li raylal. Abanan minâcanab chi osocß at Kâcuaß. Chinâcol ban chiruheb li xicß nequeßiloc cue.
15Nguyện dòng nước không ngập tôi, Vực sâu chớ nhận tôi, Hầm không lấp miệng nó lại trên tôi.
15Minâcanab chixcßam lix cacuil rok li nimaß ut minâcanab chi subûnc saß lix chamal li haß, chi moco tinâcanab chi osocß saß li chamal jul.
16Ðức Giê-hô-va khiến, xin hãy đáp lại tôi; vì sự nhơn từ Ngài là tốt; Tùy sự thương xót lớn của Ngài, xin hãy xây lại cùng tôi.
16Chinâsume taxak, at Kâcuaß, xban nak kßaxal châbilat ut niquinâra. Chinâcuil ut chacuuxtâna taxak cuu.
17Xin Chúa chớ giấu mặt cùng tôi tớ Chúa, vì tôi đương bị gian truân; Hãy mau mau đáp lại tôi.
17Lâin laj cßanjel châcuu. Minâtzßektâna. Chinâsume taxak chi junpât xban nak kßaxal xiu xiu cuanquin.
18Cầu xin Chúa đến gần linh hồn tôi và chuộc nó; Vì cớ kẻ thù nghịch tôi, xin hãy cứu chuộc tôi.
18Cuânkat taxak cuiqßuin ut chinâtenkßa. Chinâcol chiruheb li xicß nequeßiloc cue.
19Chúa biết sự sỉ nhục, sự hổ thẹn, và sự nhuốt nhơ của tôi: Các cừu địch tôi đều ở trước mặt Chúa.
19Lâat nacanau nak niquineßxhob ut niquineßxseße. Ut nequeßraj xcßutbal inxutân riqßuin li nequeßxbânu cue. Lâat nacanau aniheb li xicß nequeßiloc cue.
20Sự sỉ nhục làm đau thương lòng tôi, tôi đầy sự khổ nhọc; Tôi trông đợi có người thương xót tôi, nhưng chẳng có ai; Tôi mong-nhờ người an ủi, song nào có gặp.
20Cßajoß nak nayotßeß inchßôl xban nak niquineßxhob. Yô chi chßinânc inchßôl ut incßaß chic nincuy. Xcuoybeni nak teßril xtokßobâl cuu, abanan mâ jun x-iloc xtokßobâl cuu. Xcuoybeni nak tâcßojobâk inchßôl, abanan mâ jun xcßojoban inchßôl.
21Chúng nó ban mật đắng làm vật thực tôi, Và cho tôi uống giấm trong khi khát.
21Nak quintzßoca, cßa queßxqßue chintzaca, ut nak tâchakik cue, vinagre queßxqßue chicuucß.
22Nguyện bàn tiệc trước mặt chúng nó trở nên cái bẫy; Khi chúng nó được bình an, nguyện nó lại trở nên cái lưới.
22Raylal ta chisukßîk cuiß saß xbêneb li ninkße li nequeßxbânu. Li cßaßru us chiruheb, aßan ta ajcuiß chitßanok reheb.
23Nguyện mắt chúng nó bị tối, không còn thấy, Và hãy làm cho lưng chúng nó hằng run.
23Cheßmutzßokß taxak li xnakß ruheb re nak incßaß chic teßilok. Sicsotkeb ta li rokeb re nak incßaß chic sa teßbêk.
24Hãy đổ cơn thạnh nộ Chúa trên chúng nó. Khiến sự giận dữ Chúa theo kịp họ.
24Chacßut taxak lâ joskßil chiruheb. Cheßosokß taxak xban lâ joskßil.
25Nguyện chỗ ở chúng nó bị bỏ hoang, Chẳng có ai ở trong trại chúng nó nữa.
25Ut lix naßajeb chicanâk ta chi mâcßaß chic cuan. Ut mâ ani ta chic cheßhilânk saß lix muhebâleb.
26Vì chúng nó bắt bớ kẻ Chúa đã đánh, Và thuật lại sự đau đớn của người mà Chúa đã làm cho bị thương.
26Nequeßxrahobtesi li catakla chak chi cßuluc raylal ut cßajoß nak nequeßxhob.
27Cầu xin Chúa hãy gia tội ác vào tội ác chúng nó; Chớ cho chúng nó vào trong sự công bình của Chúa.
27Mâusilal taxak tâqßue saß xbêneb chokß xtojbal rix li mâusilal li nequeßxbânu. Incßaß taxak tâcuyeb xmâqueb.
28Nguyện chúng nó bị xóa khỏi sách sự sống, Không được ghi chung với người công bình.
28Chacuisiheb ta lix cßabaßeb saß li Hu re li Yußam. Ut mâqßue taxak lix cßabaßeb saß xyânkeb lix cßabaßeb li tîqueb xchßôl.
29Còn tôi bị khốn cùng và đau đớn: Ðức Chúa Trời ơn, nguyện sự cứu rỗi của Chúa nâng đỡ tôi lên nơi cao.
29Kßaxal ra cuanquin ut tokßobâl cuu. Chinâcuaclesi, at inDios, ut chinâcol.
30Tôi sẽ dùng bài hát mà ngợi khen danh Ðức Chúa Trời, Và lấy sự cảm tạ mà tôn cao Ngài.
30Tinbicha xlokßal lix cßabaß li Dios. Tinnima ru ut tinlokßoni.
31Ðiều ấy sẽ đẹp lòng Ðức Giê-hô-va hơn con bò đực, Hoặc con bò đực có sừng và móng rẽ ra.
31Aßan kßaxal cuißchic tâcuulak chiru li Kâcuaß chiru nak tinmayeja li bôyx ut li cuacax têlom chi tzßakal re ru, li cuan xxucub ut cuan rixißij.
32Những người hiền từ sẽ thấy điều đó và vui mừng; Hỡi các người tìm cầu Ðức Chúa Trời, nguyện lòng các ngươi được sống.
32Teßsahokß xchßôleb li rahobtesinbileb nak teßril li cßaßru tixbânu li Dios. Ut eb li nequeßxsicß li Dios teßqßuehekß xcacuilal xchßôl.
33Vì Ðức Giê-hô-va nghe kẻ thiếu thốn, Không khinh dể những phu tù của Ngài.
33Li Kâcuaß narabi lix tijeb li nebaß ut aßan incßaß naxtzßektânaheb li cuanqueb chi prêxil.
34Nguyện trời, đất, biển, Và các vật hay động trong đó, đều ngợi khen Ngài.
34Cheßxqßuehak taxak xlokßal li Kâcuaß chixjunil li cßaßak re ru cuan, joß saß choxa, joß saß ruchichßochß, joß ajcuiß saß li palau.
35Vì Ðức Chúa Trời sẽ cứu Si-ôn, và xây lại các thành Giu-đa; Dân sự sẽ ở đó, được nó làm của.
35Chilokßonîk taxak li Kâcuaß Dios xban nak aßan tâcolok re li tenamit Sión. Aßan tâyîbânk cuißchic reheb li tenamit li cuanqueb Judá. Ut li ralal xcßajol teßrêchani cuißchic ut teßcuânk aran.Li ralal xcßajoleb laj cßanjel chiru li Dios teßrêchani li naßajej. Chixjunileb li nequeßrahoc re li Dios teßcuânk aran.
36Dòng dõi các tôi tớ Ngài sẽ hưởng nó làm sản nghiệp; Phàm ai yêu mến danh Ngài sẽ ở tại đó.
36Li ralal xcßajoleb laj cßanjel chiru li Dios teßrêchani li naßajej. Chixjunileb li nequeßrahoc re li Dios teßcuânk aran.