Vietnamese 1934

Zarma

Ezekiel

16

1Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
1 Rabbi sanno ye ka kaa ay do ka ne:
2Hỡi con người, hãy làm cho Giê-ru-sa-lem biết những sự gớm ghiếc của nó.
2 Boro izo, ma naŋ Urusalima ma bay nga fanta harey gaa.
3Ngươi khá nói rằng: Chúa Giê-hô-va phán cùng Giê-ru-sa-lem như vầy: Bởi cội rễ và sự sanh ra của mầy ở đất Ca-na-an; cha mầy là người A-mô-rít, mẹ là người Hê-tít.
3 Ma ne a se: Yaa no Rabbi, Koy Beero ci Urusalima se: Ni kaajo da ni hayyaŋo, Kanaana laabu no i fun. Ni baaba ya Amorance no, ni nya mo Hittance no.
4Về sự mầy sanh ra, trong ngày mầy mới đẻ, rún mầy chưa cắt, chưa rửa mầy trong nước cho được thanh sạch, chưa xát bằng muối, chưa bọc bằng khăn.
4 Ni hayyaŋ sanni mo, hano kaŋ hane i na ni hay din, boro kulu mana ni fuuma dumbu. I mana ni nyumay da hari zama i ma ni hanandi, i mana ni ziiri nda ciiri baa kayna, i mana zaara-zaara daŋ ni gaa mo.
5Chẳng có mắt nào thương mầy, đặng làm một việc trong những việc đó cho mầy vì lòng thương xót mầy; song mầy đã bị quăng giữa đồng trống trong ngày mầy sanh ra, vì người ta gớm mầy.
5 Boro kulu mana ni guna nda bakaraw mo, ka gomni woodin te ni se ka bakar ni se. Amma i na ni furu saaji ra, zama i na ni fanta, hano kaŋ hane i na ni hay.
6Khi ta qua gần mầy, thấy mầy tắm trong máu mình, ta phán cùng mầy rằng: Dầu ở giữa máu mầy, hãy sống! Thật, ta phán cùng mầy rằng: Dầu ở giữa máu mầy, hãy sống!
6 Ay binde, waato kaŋ ay go ga bisa, ay na ni gar ni go ga kani ka bimbilko ni kuro ra. Oho, baa kaŋ ni go ni kuro ra, ay day ne ni se: «Ma funa!»
7Ta đã làm cho mầy thêm nhiều ra, như vật đồng ruộng mọc lên. Mầy đã nẩy nở, lớn lên, và trở nên đẹp đẽ lắm. Vú mầy dậy lên, tóc mầy dài ra, nhưng hãi còn ở lỗ và trần truồng.
7 Ay na ni naŋ ni ma baa sanda haŋ kaŋ i tilam fari ra cine. Ni beeri, ni ku, ni to wayboro kayyaŋ gurbi ra, ni fafey fun, ni boŋ hamney ku, amma bankaaray si ni gaa. Ni go gaa-koonu punti!
8Khi ta qua gần mầy, và nhìn mầy, nầy, tuṀ•i mầy nầy, mầy €‘ã đến tuổi yêu mến. Ta lấy áo ngoài ta trùm trên mầy, che sự trần truồng mầy. Phải, ta thề cùng mầy và kết giao ước với mầy, thì mầy trở nên của ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
8 Ay binde, waato kaŋ ay go ga bisa koyne, ay na ni guna, ay di kaŋ ni to baakasinay alwaati. Ay mo n'ay kwaayo daŋ ka ni daabu ka ni gaa-koono bankaaray. Oho, ay ze ni se, ay na hiijay alkawli te ni se, ni ciya mo ay wane. Yaadin no Rabbi Irikoy ci.
9Ta rửa mầy trong nước, làm cho sạch máu vấy mình mầy, và xức dầu cho.
9 Waato din gaa no ay na ni nyumay da hari. Oho, ay na ni kuro nyun ka kaa ni gaa, ay na ni tuusu nda ji mo.
10Ta mặc áo thêu cho mầy, cho mầy mang giày sắc lam, thắt lưng mầy bằng vải gai mịn, đắp cho mầy bằng hàng lụa.
10 Ay na ni bankaara nda bankaaray taalamante. Ay na taamuyaŋ te ni se da dofin kuuru, ay na ni didiji nda lin* baano, ay na ni daabu nda swa*.
11Ta lấy đồ trang sức giồi cho mầy, xỏ vòng vào tay, mang kiềng vào cỡ,
11 Ay na ni taalam da jinay dumi-dumi. Ay na kambe guuru daŋ ni kambey gaa, ni jinda mo, ay na wura sisiri daŋ a gaa.
12tra khoen nơi mũi, đeo hoa vào tai, và đội mão đẹp trên đầu mầy.
12 Ay na korbay daŋ ni niina gaa, da hanga korbayyaŋ mo ni hangey gaa, da koytaray fuula hanno mo ni boŋo gaa.
13Như vầy, mầy được trang sức bằng vàng bằng bạc; áo xống của mầy bằng vải gai mịn, bằng hàng lụa, bằng đồ thêu; mầy nuôi mình bằng bột mì lọc, bằng mật ong và bằng dầu. Mầy đã trở nên cực đẹp, và thạnh vượng đến nỗi được ngôi hoàng hậu.
13 Yaadin cine no i na ni taalam da wura nda nzarfu. Ni bankaarayey mo lin baano da swa taalamante no. Ni na hamni baano da yu da ji ŋwa. Ni ciya nyaalaway gumo nda cimi. Ni te arzaka hala ni to koytaray kayyaŋ gurbi ra.
14Danh tiếng mầy lừng lẫy trong các nước bởi sắc đẹp mầy; vì sự đẹp là toàn vẹn bởi oai nghi của ta mà ta đã đặt trên mầy, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
14 Ni maa koy nangu kulu ndunnya dumey ra ni sogoyaŋ hanna se, a kubay mo ay darza kaŋ ay daŋ ni gaa din sabbay se. Yaadin no Rabbi, Koy Beero ci.
15Nhưng mầy cậy sắc đẹp mình; cậy danh tiếng mình mà buông sự dâm dục, hành dâm cùng mọi kẻ trải qua, phó mình mầy cho nó.
15 Amma ni de ni sogotaray hanna gaa, hala ni na kaaruwataray* te ni maa beera sabbay se. Ni na ni kaaruwatara gusam boro kaŋ ga bisa kulu boŋ, boro kulu kaŋ ga ba r'a.
16Mầy dùng áo xống mình, trang sức nhiều mùi, và làm sự dâm loạn tại đó; đều ấy sẽ chẳng đến, cũng sẽ chẳng có bao giờ.
16 Ni na ni bankaaray fooyaŋ kaŋ gonda taalam dumi-dumi sambu ka te sududuyaŋ hari nd'ey, ni na kaaruwataray goy te i boŋ. Woodin dumi mana hima ka te, a ma si ciya mo yaadin.
17Mầy cũng đã lấy những đồ trang sức trọng thể, làm bằng vàng và bạc mà ta đã ban cho mầy; mầy dùng làm hình người nam, rồi hành dâm với nó.
17 Ni na ni taalam jinay hanney mo sambu, ay wura nd'ay nzarfu waney, kaŋ ay na ni no. Ni na alboro himandi-himandiyaŋ te ni boŋ se ka zina nd'ey.
18Mầy lấy áo xống thêu của minh mà đắp cho chúng nó, lấy dầu và hương của ta bày ra trước mặt chúng nó.
18 Ni na ni taalam bankaaray sambu ka daabu i gaa, ni na ay jiyo d'ay dugo daŋ i jine.
19Bánh mà ta đã ban cho mầy, bột mì lọc, dầu, và mật ong mà ta cho mầy ăn, thì mầy đem mà bày ra hết trước mặt chúng nó, để làm mùi thơm tho. Thật, có sự ấy, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
19 Ay ŋwaaro mo kaŋ ay na ni no, hamni baano da ji da yu kaŋ ay na ni kuru nd'ey, ni n'i jisi toorey din jine, i ma te haw kaano. Yaadin no a bara. Yaadin no Rabbi, Koy Beero ci.
20Mầy đã bắt những con trai con gái mà mầy đã sanh ra cho ta, đem dâng cho chúng nó đặng nuốt đi. Những sự dâm ô đó há phải là nhỏ mọn sao?
20 Ni na ni izey kaŋ ni hay ay se yaŋ sambu, alboro nda wayboro ka n'i nooyandi sargay toorey se zama i m'i ŋwa ka ban. Ni kaaruwatara wo hay fo kayna no, wala?
21Mầy đã giết con cái ta, và đã đưa qua trên lửa mà nộp cho chúng nó.
21 Ni na ay izey wi, ni n'i nooyandi sargay kaŋ i ga ton toorey se.
22Giữa mọi sự gớm ghiếc và sự tà dâm mầy, mầy không nhớ lúc còn thơ trẻ, khi mầy hãi còn ở lỗ, truồng trần hết cả, tắm trong máu mình.
22 Fanta harey da zina goy kulu kaŋ ni te ra, ni mana fongu ni zankataray waate jirbey, waato kaŋ ni go gaa-koonu, bankaaray si, ni go ga kani ka bimbilko ni kuro ra.
23Chúa Giê-hô-va phán: Khốn nạn, khốn nạn cho mầy! sau khi mầy làm mọi sự dự ấy,
23 A ciya mo koyne, ni daa laala din kulu banda -- (Kaari, kaari nin! Yaa no Rabbi, Koy Beero ci) --
24lại xây vòng khung cho mình, dựng nơi cao cho mình trên mọi đường phố.
24 kala ni ye ka tooru fu yaŋ da cinari kuuku yaŋ cina ni boŋ se batama fo kulu ra.
25Nơi lối vào các đường phố, mầy xây nơi cao mình, và đã làm cho sự đẹp đẽ mầy nên gớm ghiếc, mầy đã nộp mình cho mọi người đi qua, và thêm nhiều sự tà dâm mầy.
25 Ni na ni cinari kuuku te fondey lokotey kulu gaa, ni na ni darza ciya fanta hari. Ni na ni boŋ taŋ boro kaŋ ga bisa kulu se, hala ni kaaruwatara* baa gumo.
26Mầy đã hành dâm với những người Ê-díp-tô, là người lân cận mầy có thân thể mạnh mẽ, mầy đã thêm nhiều sự tà dâm đặng chọc giận ta.
26 Ni zina mo da Misira borey, danga ni gorokasin binikomey nooya. Ni naŋ ni kaaruwatara ma baa mo zama ni ma yanje ceeci ay gaa.
27Vậy, ta đã giang tay ta trên mầy; bớt phần đã chỉ định cho mầy, và phó mầy cho ý muốn của kẻ ghét mầy, tức các con gái Phi-li-tin, chúng nó đã mắc cỡ về sự hành dâm của mầy.
27 Woodin sabbay se no ay n'ay kamba salle ka gaaba nda nin. Ay na ni laabo zabu. Ay na ni nooyandi ni ibarey se i ma ngey ibaay te, sanda Filistancey ize wayey nooya, borey kaŋ yaŋ haaw ni goy yaamey sabbay se.
28Mầy cũng đã hành dâm cùng những người A-si-ri, vì mầy không no chán. Sau khi đã phạm tội tà dâm với chúng nó, mầy còn chưa no chán.
28 Ni na kaaruwataray te mo da Assiriyancey, zama ni biniya mana ni wasa. Oho, ni na kaaruwataray te d'ey, kulu nda yaadin ni mana ne a wasa.
29Vả, mầy đã thêm nhiều sự dâm dục với đất Ca-na-an cho đến Canh-đê, thế mà mầy cũng chưa no chán!
29 Hala nda Kaldancey mo, laabo kaŋ ga day da neera te. Noodin no ni konda ni kaaruwatara ka naŋ a ma baa, kulu nda yaadin ni mana ne a wasa.
30Chúa Giê-hô-va phán: Ôi! lòng mầy luốt lát là dường nào, mầy phạm mọi việc đó, là việc của đờn bà tà dâm không biết xấu.
30 Yaa no Rabbi, Koy Beero ci: Ni daa sinda gaabi! za kaŋ ni ga woodin yaŋ kulu te, nin wayboro kaaruwa donda-caray-koy,
31Khi mầy xây vòng khung mình nơi lối vào mỗi đường, dựng nơi cao trên mỗi đường phố, mầy không giống như đứa điếm đĩ, bởi mầy khinh tiền công;
31 za kaŋ ni goono ga ni tooru fuwey cina batama fo kulu ra, ni na cinari kuuku yaŋ cina mo fondo lokotey kulu gaa. Day manti kaaruwa daa no ni goono ga cabe bo, kaŋ ni goono ga donda sufuray nooru.
32mầy là đờn bà ngoại tình, tiếp người lạ thay vì chồng mình.
32 Nin, wayboro kurnyekoy kaŋ go ga zina, kaŋ ga yawyaŋ sambu ni kurnyo gurbi ra!
33Hễ là đứa điếm đĩ thì được tiền công; nhưng mầy thì dâng lễ vật cho hết thảy tình nhơn mầy; mầy đã hối lộ cho chúng, để chúng đến tư bề mà hành dâm với mầy.
33 Alborey doona ka nooyaŋ no kaaruwey kulu se, amma nin wo, nin no ga ni nooyaŋey no ni arey kulu se. Ni g'i no suuji, zama i ma kaa ni do ka fun nangu kulu, araŋ ma zina te se.
34Mầy đã làm trái với đờn bà khác trong sự tà dâm mầy, vì người ta không tìm mầy; và mầy trả tiền công, còn người ta không cho mầy chi hết. Ấy là mầy trái với những kẻ khác!
34 Ni daa ga waana wayboro cindey waney kaaruwataray goy ra, za kaŋ alboro si no kaŋ ga ni ceeci zina se. Ni wo, ni siino ga te wo kaŋ ga saba fonda din boŋ, za kaŋ i siino ga ni no sufuray nooru, day nin no go g'i no.
35Vậy nên, hỡi kẻ điếm đĩ, hãy nghe lời của Ðức Giê-hô-va.
35 Ni binde, ya nin, kaaruwa, ma maa Rabbi sanno.
36Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì cớ mầy đã đổ ra sự ô uế, tỏ ra sự trần truồng bởi sự hành dâm với tình nhơn mầy; và vì cớ mọi thần tượng gớm ghiếc của mầy, cũng vì cớ máu con cái mầy đã dâng cho chúng nó,
36 Yaa no Rabbi, Koy Beero ci: Ni kazaamatara kaŋ ni gusam parkatay sabbay se, da ni gaahamo gundo kaŋ ni feeri borey kaŋ yaŋ go ga ni ceeci zina kaŋ ni ga te d'ey din do, da ni toorey kaŋ ga ti fanta harey kulu, da ni izey kaŋ ni no i se din, d'i kurey alhakku sabbay se:
37cho nên, nầy, ta sẽ nhóm hết thảy tình nhơn mầy, tức những kẻ mầy ưa thích, mọi kẻ mầy yêu, mọi kẻ mầy ghét; ta sẽ nhóm chúng nó từ mọi bề đến nghịch cùng mầy; ta sẽ lột truồng mầy cho chúng nó, chúng nó sẽ thấy hết.
37 woodin yaŋ sabbay se a go, ay mo, kal ay ma ni baakoy kulu margu, ngey kaŋ yaŋ banda ni na ndunnya kaani ŋwa, da ngey kaŋ yaŋ ni ga ba kulu, da ngey kaŋ yaŋ ni si ba kulu. Ay g'i margu ni gaa. I ma ni windi, ay ga ni gaa-koono feeri i se zama i ma di ni jallo taray kwaaray.
38Ta sẽ đoán phạt mầy như đoán phạt đờn bà bội chồng và làm đổ máu; ta sẽ lấy máu của sự giận dữ và ghen tương mà đổ trên mầy.
38 Ay ga ni ciiti mo, sanda wo kaŋ dumi i ga te wayborey kaŋ na ngey hiijay amaana halaci yaŋ din se, da wo kaŋ i ga te boro-wi se. Ay ga futay da canse kuri alhakku candi ka kande ni gaa.
39Ta cũng sẽ phó mầy vào tay chúng nó: chúng nó sẽ phá vòng khung và đổ các nơi cao của mầy; lột áo xống mầy, để mầy ở lỗ và truồng trần.
39 Ay ga ni daŋ mo ni arey kambe ra. I ga ni tooru fuwey zeeri, i ga ni cinari kuukey bagu-bagu, i ga ni kaa koonu, i ga ni taalam hari hanney kom ni gaa, i ga fay da nin gaa-koonu mo, bankaaray si.
40Chúng nó sẽ khiến một lũ người lên nghịch cùng mầy, ném đá mầy và đâm mầy bằng gươm.
40 Boro jama ga margu ni gaa, i ga ni catu-catu nda tondiyaŋ _kala ni ma bu|_, i ga ni pati-pati nda ngey takubey.
41Chúng nó sẽ lấy lửa đốt nhà mầy, đoán xét mầy trước mắt nhiều đờn bà; ta sẽ làm cho mầy hết hành dâm và mầy cũng không cho tiền công nữa.
41 I ga ni windey ton da danji, i ga ciiti toonandi ni se, wayboro boobo go ga di. Ay ga naŋ mo ni ma fay da kaaruwataray goy, ni si ye ka sufuray nooru no ni arey se koyne.
42Vậy thì cơn giận ta sẽ dứt, sự ghen tương ta lìa khỏi mầy, và ta yên lặng, không giận nữa.
42 Woodin gaa no ay ga daŋ ay futa kaŋ ay te ni se din ma zumbu, ay cansa mo ma fay da nin. Ay ga fulanzam, ay si ye ka futu koyne.
43Vì mầy không nhớ lúc mình còn thơ bé, và đã nóng giận nghịch cùng ta trong mọi việc; cho nên, nầy, ta cũng sẽ làm cho đường lối mầy lại đổ trên đầu mầy, Chúa Giê-hô-va phán vậy; mầy sẽ không thêm sự hành dâm nầy vào mọi sự gớm ghiếc mầy nữa.
43 Za kaŋ ni mana fongu ni zankataray jirbey gaa, amma ni n'ay futandi harey din kulu ra, woodin sabbay se, a go, ay ga ni goyo alhakko bana ni gaa, zama ni ma si ye ka sara ka tonton ni fanta hari cindey kulu gaa. Yaadin no Rabbi, Koy Beero ci.
44Phàm người hay dùng tục ngữ, sẽ lấy câu tục ngữ nầy mà nói về mầy: Mẹ thế nào, con gái thế ấy!
44 A go, yaasaykoy kulu ga yaasay woone te ni boŋ ka ne: «Sanda mate kaŋ cine nyaŋo go, yaadin no ize wayo mo go.»
45Mầy là con gái của mẹ mầy, mẹ mầy đã chán bỏ chồng con mình; mầy là em các chị mầy, các chị mầy đã chán bỏ chồng con mình; mẹ mầy là người Hê-tít, và cha mầy là người A-mô-rít.
45 Ni ya ni nyaŋo ize way no, kaŋ na nga kurnyo da nga izey fanta. Ni mo, ni nyaŋo izey nya-ize no, ngey kaŋ yaŋ na ngey kurnyey da ngey izey fanta. Ni nya ya Hittance no, ni baaba mo Amorance no.
46Chị mầy là Sa-ma-ri cũng các con gái nó, ở bên tả mầy; em mầy là Sô-đôm cùng các con gái nó, ở bên hữu mầy.
46 Ni beere waybora no ga ti Samariya, kaŋ goro ni se azawa kambe haray doŋ, nga nda nga ize wayey. Ni kayne waybora mo, kaŋ goro ni se dandi kambe haray doŋ, Saduma* nda nga ize wayey no.
47Còn mầy không bước đi trong đường chúng nó, và không phạm những sự gớm ghiếc giống nhau; mầy cho điều đó là nhỏ mọn, nhưng mầy đã tự làm ra xấu hơn chúng nó trong mọi đường lối mầy nữa.
47 Amma manti i muraadey fondey hinne no ni wo goono ga gana bo, hala ni ma goy i fanta harey dumi boŋ. Danga day woodin hay fo kayna no nda cimi, ni bisa i kulu goy yaamo ni muraadey kulu ra.
48Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, Sô-đôm, em mầy, chính mình nó và con gái nó chưa từng làm sự mầy và con gái mầy đã làm.
48 Yaa no Rabbi, Koy Beero ci: Ay ze d'ay fundo, ni kayne Saduma da nga ize wayey mana ni teerey wo cine te, nin da ni ize wayey.
49Nầy, đây là sự gian ác của em gái mầy là Sô-đôm và các con gái nó: ở kiêu ngạo, ăn bánh no nê, và ở nể cách sung sướng; nó lại không bổ sức cho tay kẻ nghèo nàn và thiếu thốn.
49 Guna, ni kayne Saduma laala neeya: boŋbeeray da ŋwa ka kunguyaŋ goray, da ndunnya kaani ŋwaari no ka bara a gaa, nga nda nga ize wayey kulu. A mana nga talkey da nga alfukaarey kambe gaabandi mo.
50Chúng nó đã trở nên cao ngạo, phạm những sự gớm ghiếc trước mặt ta; nên ta đã trừ chúng nó đi, vừa khi ta thấy mọi điều đó.
50 Boŋbeeray da fanta goy no i cabe ay se. Woodin sabbay se no, waato kaŋ ay na laakal ye i gaa, ay n'i tuusu.
51Sa-ma-ri chưa phạm đến phân nửa tội mà mầy đã phạm; mầy đã thêm nhiều sự gớm ghiếc hơn nó, và bởi những sự gớm ghiếc mầy đã phạm, thì chị em mầy con được kể là công bình.
51 Baa Samariya mana ni zunubey jara cine te, amma ni naŋ ni fanta harey ma baa gumo ka bisa a waney gaa, hala ni nya-izey kulu hima i ga hanan d'i n'i kar ni gaa, ni fanta goyey kulu kaŋ ni te din sabbay se.
52Mầy xét đoán chị em mầy, ấy là mầy chuốc lấy sự xấu hổ mình. Vì cớ tội lỗi mầy còn là đáng gớm hơn chúng nó, thì chúng nó là công bình hơn mầy. Vậy, mầy cũng hãy mang nhơ chịu hổ, vì mầy đã làm cho chị em mầy được kể là công bình!
52 Ni mo, kala ni ma ni haawo jare, za kaŋ ni naŋ ni nya-izey ciito ma si to ni wano, mate kaŋ cine ni zunubey kaŋ ni goy bisa i waney fanta hari, ngey mo bisa nin adilitaray. Oho, kala ni ma haaw, ma di kayna, za kaŋ ni nya-izey hima i ga hanan d'i n'i kar ni gaa.
53Ta sẽ đem những phu tù của Sô-đôm và các con gái nó trở về, đem những phu tù của Sa-ma-ri và các con gái nó trở về, cũng đem các phu tù của mầy ở giữa chúng nó trở về nữa;
53 Ay ga ye ka kand'ey i ma fun ngey tamtara do, sanda Saduma nda nga ize wayey tamtara, da Samariya nda nga ize wayey tamtara nooya, da ni bumbo din wane tamtara i banda.
54để mầy mang nhuốc mình, và chịu hổ về mọi điều mầy đã làm, vì đã làm cho chúng nó được yên ủi.
54 Zama ni ma di kayna. Hay kulu kaŋ ni te, ni m'a haawo jare, ni yalu mo ma bare, za day kaŋ ni ciya i se bine gaabandiyaŋ hari.
55Chị em mầy, Sô-đôm và con gái nó, sẽ trở lại như khi xưa. Sa-ma-ri cùng con gái nó cũng trở lại như khi xưa. Mầy cùng con gái mầy cũng sẽ trở lại như khi xưa.
55 Ni nya-izey mo, Saduma nda nga ize wayey ga ye ka kaa ngey waato kayyaŋ nangu zeena ra. Samariya da nga ize wayey mo ga ye ka kaa ngey waato kayyaŋ nangu zeena ra. Ni mo, nin da ni ize wayey ga ye ka kaa araŋ waato kayyaŋ nangu zeena ra.
56Trong ngày mầy kiêu ngạo, miệng mầy chẳng nhắc đến tên Sô-đôm, em mầy;
56 Zama ni boŋbeera jirbey ra ni mana ni kayno Saduma maa ce
57lúc đó sự dự của mầy chưa lộ ra, mầy còn chưa bị những lời nhiếc móc của con gái Sy-ri và hết thảy các xứ lân cận, của các con gái Phi-li-tin nó khinh dể mầy tư bề.
57 za waato kaŋ i mana ni laala fisi ka kaa taray. Ni wane wowo waate neeya kaŋ Edom Suriya ize wayey da ngey kaŋ yaŋ g'a windi kulu ga te ni se, sanda Filistancey ize wayey kaŋ donda nin ni windanta kulu nooya.
58Mầy đã mang lấy sự hành dâm và sự gớm ghiếc của mầy, Ðức Giê-hô-va phán vậy.
58 Ni na ni goy yaamey da ni fanta harey alhakko sambu nooya. Yaadin no Rabbi ci.
59Vì Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Mầy đã khinh dể lời thề mà dứt bỏ giao ước ta, ta sẽ đối đãi mầy như mầy đã làm.
59 Zama yaa no Rabbi, Koy Beero ci: Ni goyo boŋ no ay ga te ni se, nin kaŋ donda zeyaŋ, za kaŋ ni na sappa tunandi.
60Dầu vậy, ta sẽ nhớ lại giao ước ta đã lập với mầy đương ngày mầy thơ bé, ta vì mầy sẽ lập một giao ước đời đời.
60 Kulu nda yaadin, ay ga fongu ay sappa kaŋ ay te da nin za ni zankatara jirbey ra, ay ga alkawli kaŋ ga duumi tabbatandi mo ni se.
61Khi mầy sẽ nhận lấy những chị em mầy, mầy sẽ nhớ lại đường lối mình mà hổ thẹn; bấy giờ ta sẽ trao chúng nó cho mầy làm con gái, nhưng không cứ theo giao ước mầy.
61 Waati din gaa no ni ga fongu ni muraadey gaa, ni ma haaw, waati kaŋ cine ni na ni nya-izey ta, ni beere da ni kayne wayborey. Ay ga ni no nd'ey mo i ma ciya ni izeyaŋ, amma manti ni sappa boŋ bo.
62Ta sẽ lập giao ước ta với mầy, mầy sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va;
62 Ay g'ay alkawlo tabbatandi in da nin game ra. Ni ga bay mo kaŋ ay no ga ti Rabbi,
63hầu cho mầy được nhớ lại và hổ ngươi; vì chớ sự xấu hổ mầy, mầy chẳng còn mở miệng nữa, khi ta đã tha thứ mọi điều mầy đã làm, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
63 zama ni ma fongu, ni ma haaw mo. Ni ma si ye ka ni me feeri ni kaynayaŋo sabbay se, d'ay ban ka ni yaafa nda hay kulu kaŋ ni te. Yaadin no Rabbi, Koy Beero ci.