1Bên cúi xuống; Nê-bô-khom mình; tượng nó chở trên loài thú, trên súc vật. Những vật mà các ngươi vốn thường khiêng, đè nặng quá, làm cho súc vật mệt nhọc.
1 Bel sombu, Nebo mo gungum. Babila borey toorey go alman beerey da alman kayney boŋ. Hayey din kaŋ araŋ bar-bare nd'ey waato ciya sambuyaŋ jaraw da taabi jaraw alman fargantey se.
2Chúng nó cúi xuống, cùng nhau khom mình; đã chẳng cứu được gánh nặng của mình, và chính mình lại bị bắt làm phu tù.
2 I gungum ka sombu mo care banda. De-koyey mongu ka hin ka toorey faaba, Amma ngey bumbey din koy tamtaray ra.
3Hỡi nhà Gia-cốp, và hết thảy các ngươi là dân sót của nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe ta, ta đã gánh vác các ngươi từ lúc mới sanh, bồng-ẵm các ngươi từ trong lòng mẹ.
3 Ya Yakuba dumo kaŋ ti Israyla dumo jara kaŋ cindi, Araŋ kaŋ yaŋ ay gaay za gunde ra ka jare mo za araŋ hayyaŋ hane, Wa hanga jeeri ay se.
4Cho đến chừng các ngươi già cả, đầu râu tóc bạc, ta cũng sẽ bồng-ẵm các ngươi. Ta đã làm ra, thì sẽ còn gánh vác các ngươi nữa. Ta sẽ bồng ẵm và giải cứu các ngươi.
4 Hala ka koy araŋ zeenay ay no ga ti NGA, Hala ka koy araŋ hamni kwaarey gaa mo ay no g'araŋ jare. Ay no k'araŋ te, ay mo no ga jare, Ay g'araŋ gaay, oho, ay g'araŋ faaba mo.
5Các ngươi so sánh ta cùng ai, và coi ta bằng ai? Các ngươi lấy ai đọ với ta, đặng chúng ta được giống nhau?
5 May no araŋ g'ay himandi nd'a ka ne in d'a ga saba? May gaa no araŋ g'ay kar ka ne in d'a ga hima care?
6Kìa, họ móc vàng trong túi ra, và lấy cân mà cân bạc, thuê thợ vàng dùng mà đúc một thần, với cúi mình thờ lạy.
6 Borey kaŋ yaŋ ga wura dooru ka kaa ziika ra ka nzarfu mo neesi tiŋay neesiji ra, I ga zinga nda wura zam, A m'a bare ka te tooru. I ga gungum, oho, i ga sududu a se.
7Họ vác tượng ấy trên vai, đem đi, đặt vào chỗ nó: thần cứ đứng đó mà không dời khỏi chỗ nó nữa. Nếu có ai kêu cầu, thì thần chẳng trả lời, và không cứu khỏi nạn được.
7 I ga tooro sambu jase gaa ka kond'a k'a jisi nga nango ra. A go ga kay, a si tun nga nango ra. Oho, baa boro hẽ a gaa, A si hin ka tu ka bora faaba nga taabey ra.
8Hãy nhớ mọi sự đó, hãy rõ ra là đấng trượng phu! Hỡi kẻ phạm tội, hãy nghĩ lại!
8 Ya araŋ, taali-teerey, Wa fongu woone gaa ka ciya alboroyaŋ, Araŋ m'a lasaabu araŋ biney ra.
9Hãy nhớ lại những sự ngày xưa; vì ta là Ðức Chúa Trời, và chẳng có Chúa nào khác; ta là Ðức Chúa Trời, chẳng có ai giống như ta.
9 Wa fongu waato muraadey, za doŋ-doŋ waney, Zama ay ga ti Irikoy, afo kulu si no. Ay ya Irikoy no, afo si no mo danga ay.
10Ta đã rao sự cuối cùng từ buổi đầu tiên, và đã nói từ thuở xưa những sự chưa làm nên. Ta phán rằng: Mưu của ta sẽ lập, và ta sẽ làm ra mọi sự ta đẹp ý.
10 Ay no ga bananta bangandi za sintina, Za doŋ zamaney ra hariyaŋ mo, Ya i bangandi za i mana te jina. Ay ga ne: Ay waado ga tabbat. Hay kulu kaŋ ay miila mo, ay g'a te.
11Ta gọi chim ó đến từ phương đông, và gọi người làm mưu ta đến từ xứ xa. Ðiều ta đã rao ra, ta sẽ làm hoàn thành, điều ta đã định, ta cũng sẽ làm.
11 Ay ga curo kaŋ ga ham ŋwa ce a ma kaa ka fun wayna funay haray. Bora kaŋ ay waadu mo ga fun laabu mooro ra. Daahir no ay ci, daahir ay g'a toonandi mo. Ay n'a miila, daahir ay g'a goy mo.
12Hỡi những người cứng lòng, xa cách sự công bình, hãy nghe ta phán.
12 Ya araŋ bine sando koyey, Araŋ kaŋ ga mooru adilitaray, wa hanga jeeri ay se.
13Ta làm cho sự công bình ta đến gần, nó chẳng xa chi, và sự cứu rỗi của ta sẽ chẳng chậm trễ. Ta sẽ đặt sự cứu rỗi trong Si-ôn cho Y-sơ-ra-ên, là sự vinh hiển ta.
13 Ay g'ay adilitara maanandi, a si mooru bo, Ay faaba mo si gay. Ay ga faaba no Sihiyona ra, Y'ay darza mo no Israyla se.