1Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ khiến gió hủy diệt, dất lên nghịch cùng Ba-by-lôn, nghịch cùng những người ở trong Líp-Ca-mai.
1 Yaa no Rabbi ci: Guna, ay ga halaciyaŋ haw tunandi kaŋ ga kaa Babila nda Kaldiya gorokoy gaa.
2Ta sẽ sai những người dân ngoại đến sàng sảy Ba-by-lôn, và làm điêu hao đất nó; vì đến ngày khốn nạn, chúng nó sẽ đến trên Ba-by-lôn khắp tư bề.
2 Ay ga mebarawyaŋ donton Babila gaa kaŋ yaŋ g'a faaru mo, ka fay d'a laabo koonu. Zama a masiiba zaaro ra no i g'a koli ka windi nda gaaba kuray kulu gaa.
3Khá giương cung cự lại kẻ cầm cung, và cự lại kẻ mặc áo giáp đi xúng xính! Chớ chừa những lính chiến trai trẻ của Ba-by-lôn; hãy diệt trọn hết cả đạo binh nó.
3 Tongo farma ma si nga birawo candi, A ma si tun ka kay nga wongu kwaayo ra mo. Wa si jalla a sahãkooney gaa. W'a wongu kundey kulu halaci parkatak.
4Chúng nó sẽ bị giết, ngã xuống trong đất người Canh-đê, và bị đâm trong các đường phố nó.
4 Borey kaŋ i wi ga kaŋ Kaldancey laabo ra, Ngey kaŋ i n'i gundey fun ga kaŋ a kwaara fondey ra.
5Y-sơ-ra-ên cùng Giu-đa chẳng bị lìa bỏ bởi Ðức Chúa Trời mình, bởi Ðức Giê-hô-va vạn quân; dầu đất chúng nó đầy tội lỗi nghịch cùng Ðấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
5 Zama baa kaŋ Israyla nda Yahuda laabo go, i to da taali kaŋ i te Israyla wane Hananyankoyo se, Kulu nda yaadin i Irikoyo Rabbi Kundeykoyo mana i furu bo.
6Hãy trốn khỏi giữa Ba-by-lôn, ai nầy khá thoát mạng mình; chớ vì tội nó mà bị chết mất. Vì ấy là kỳ trả thù của Ðức Giê-hô-va, Ngài sẽ báo cho nó.
6 Wa zuru ka fun Babila bindo ra! Boro fo kulu ma yana nda nga fundo, Hal i ma si araŋ pati a alhakko ra. Zama Rabbi banayaŋ alwaato to, A g'a bana da alhakku kaŋ ga saba.
7Ba-by-lôn vốn là một cái chén vàng trong tay Ðức Giê-hô-va, làm cho say cả đất; các nước đã uống rượu nó, vì đó mà trở nên điên cuồng.
7 Waato, Babila wo wura haŋ-gaasiya no Rabbi kamba ra, Gaasiya kaŋ a daŋ ndunnya kulu ma haŋ a ra ka bugu. Ndunnya dumey n'a duvaŋo haŋ, i binde follo da futay.
8Ba-by-lôn thình lình bị đổ xuống và tan nát. Hãy vì nó than khóc! Hãy lấy nhũ hương chữa đau đớn nó, hoặc nó được chữa lành chăng?
8 Fap, folloŋ! Babila kaŋ ka halaci! Wa baray a se! Wa kond'a se safari a doori laala sabbay se, Hambara a ga hin ka te a ma yay.
9Chúng ta vẫn muốn chữa lành cho Ba-by-lôn, song nó không được chữa. Hãy lìa bỏ nó, ai nấy trở về xứ mình; vì sự phán xét nó thấu đến tận trời và lên tận vòng khung.
9 Doŋ iri ga ba iri ma Babila yayandi, amma a mana yay. Iri ma fay d'a. Iri kulu ma ye iri laabey ra, Zama a ciito koy ka to hala beene, A ziji beene hal a to beene burey gaa.
10Ðức Giê-hô-va đã tỏ ra sự công bình chúng ta. Hãy đến, rao ra trong Si-ôn công việc của Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng ta.
10 Rabbi n'iri adilitara bangandi taray kwaaray. Wa kaa, iri ma Rabbi iri Irikoyo goyo dede Sihiyona ra.
11Hãy chuốc tên, cầm thuẫn cho chắc! Ðức Giê-hô-va đã giục lòng các vua ở Mê-đi, vì Ngài đã định ý hủy diệt Ba-by-lôn. Vì đây là sự báo thù của Ðức Giê-hô-va, Ngài trả thù về đền thờ của Ngài.
11 Wa hangaw deeney kaanandi, wa tongey toonandi! Rabbi naŋ Medancey bonkooney biyey ma tun, Zama a miila goono ga gaaba nda Babila, Nga m'a halaci se. Zama Rabbi banando no, a fuwo banandi nooya.
12Hãy dựng cờ xí đánh các tường thành Ba-by-lôn! Khá thêm lính giữ, đặt vọng canh, sắp quân phục! Vì Ðức Giê-hô-va đã định ý và đã làm ra sự Ngài đã phán về dân cư Ba-by-lôn.
12 Wa liiliwal sinji, i ma wongu nda Babila birni cinarey. Wa batandiyaŋ gaabandi, wa batukoyaŋ daŋ, Wa gumandi izeyaŋ soola, Zama Rabbi na woodin miila. A ga haya kaŋ a ci Babila gorokoy boŋ din goyo te mo.
13Hỡi thành giàu có của báu, ở trên nhiều dòng được kia, sự cuối cùng ngươi đã đến, cái lượng sự tham lam ngươi đã đầy!
13 Ya nin, waybora kaŋ goono ga goro hari boobey jarga, Nin, arzaka boobo koyo, ni bananta kaa, Ni zamba riiba neesijo me nooya.
14Ðức Giê-hô-va vạn quân đã chỉ mình mà thề rằng: Ta chắc sẽ làm cho ngươi đầy người ta, đông như cào cào; chúng nó sẽ trổi tiếng kêu la nghịch cùng ngươi.
14 Rabbi Kundeykoyo ze da nga boŋ ka ne: Daahir ay ga ni toonandi nda wongaariyaŋ danga do baayaŋ cine, i ga zaama kuuwayaŋ te ni boŋ.
15Chính Ngài là Ðấng đã lấy quyền năng mình dựng nên đất, lấy sự khôn ngoan mình lập thành thế gian, lấy sự sáng suốt mình giương các từng trời ra.
15 A hino do no Irikoy na ndunnya te, A na ndunnya sinji nga laakalo boŋ, A fahama mo no a na beeney daaru nd'a.
16Nghe tiếng Ngài, những nước trong các từng trời om sòm. Ngài khiến hơi nước lên từ các đầu cùng đất, khiến chớp theo mưa, từ trong kho tàng mình phát ra gió.
16 D'a ce da nga jinda, Harey ga kosongu te beena ra. A ga naŋ burey ma tun za ndunnya me ka ziji, A ga kande beene mali da hari care banda, A ga haw kaa taray nga jisiri nangey ra mo.
17Vậy nên phàm những người đều mê muội, lảng trí; thợ vàng đều xấu hổ về tượng đúc của mình; vì tượng đúc nó chỉ là giả dối, chẳng có hơi thở ở trong.
17 Adam-ize kulu ciya sanda alman kaŋ si hay kulu bay. Wura zam kulu mo, haawi n'a di nga tooro kaŋ a dan din sabbay se, Zama a sooguyaŋ himandey kaŋ a te din ya tangari no, Fulanzamyaŋ si no i niiney ra mo.
18Những thần tượng chỉ là hư không, là việc phỉnh dối; đến ngày thăm phạt sẽ diệt mất cả.
18 Hari yaamoyaŋ no, halliyaŋ goy no, I alhakko hane mo i ga halaci.
19Nhưng cơ nghiệp của Gia-cốp thì chẳng giống như chúng nó, vì chính Ngài là Ðấng đã tạo nên mọi vật, còn Y-sơ-ra-ên là chi phái của cơ nghiệp Ngài. Danh Ngài là Ðức Giê-hô-va vạn quân.
19 Amma Yakuba baa, manti yaadin cine no a go, Zama nga no ga ti hay kulu Teekwa, Israyla mo a wane kunda no. Rabbi Kundeykoyo no ga ti a maa.
20Ngươi làm búa và khí giới đánh giặc cho ta; ta sẽ dùng ngươi phá tan các dân và diệt các nước.
20 A ga ne: Nin no ga ti ay deeso d'ay wongu jinay. Nin no ay ga ndunnya dumey ceeri-ceeri nd'a. Nin no ay ga mayrayey halaci nd'a.
21Ta sẽ dùng ngươi phá tan ngựa và người cưỡi ngựa, phá tan xe và kẻ cỡi xe.
21 Nin no ay ga bari nda nga kaaruko ceeri nd'a. Nin no ay ga torko da nga kaarukwa ceeri-ceeri nd'a.
22Ta sẽ dùng ngươi phá tan đờn ông, đờn bà, già và trẻ; ta sẽ dùng ngươi phá tan trai trẻ và gái đồng trinh.
22 Nin no ay ga alborey da wayborey ceeri-ceeri nd'a. Nin no ay ga dottijo zeeney da zankey ceeri-ceeri nd'a. Nin no ay ga arwasey da wandiyey ceeri-ceeri nd'a.
23Ta sẽ dùng ngươi phá tan kẻ chăn và bầy nó, kẻ cày ruộng và đôi bò nó. Ta sẽ dùng ngươi phá tan các quan cai trị và các quan đề hình.
23 Nin no ay ga hawji da nga alman kuro ceeri-ceeri nd'a. Nin no ay ga farikoy da nga farmi hawey ceeri-ceeri nd'a. Nin no ay ga bonkooney da mayraykoyey ceeri-ceeri nd'a mo.
24Nhưng trước mắt các ngươi, ta sẽ báo cho Ba-by-lôn và mọi dân cư Canh-đê phàm điều ác chi mà chúng nó đã làm tại Si-ôn, Ðức Giê-hô-va phán vậy.
24 Ay ga bana Babila da Kaldiya gorokoy kulu gaa mo, laala kulu kaŋ i te Sihiyona ra araŋ jine din sabbay se. Yaadin no Rabbi ci.
25Ðức Giê-hô-va phán: Hỡi núi hay hủy diệt, nầy, ta nghịch cùng ngươi, là kẻ đã phá tan cả thế gian! Ta sẽ giá tay trên ngươi, sẽ xô ngươi lăn xuống từ trên các vầng đá, làm cho ngươi thành ra núi bị cháy.
25 A go, ya nin tondi kuuko kaŋ ga halaciyaŋ te, Ay ga gaaba nda nin. Yaadin no Rabbi ci. Nin kaŋ goono ga ndunnya kulu halaci. Ay ga kambe salle ka gaaba nda nin, Ay ma ni gunguray ni ma fun ni tondey boŋ, Ay ma ni ciya tondi kuuku kaŋ i ton.
26Người ta sẽ chẳng từ nơi ngươi lấy đá làm góc cùng đá làm nền nữa, nhưng ngươi sẽ là hoang vu đời đời, Ðức Giê-hô-va phán vậy.
26 I si tondi ize fo kaa ni gaa, baa cinari looko se, Wala cinaro daba se, Amma ni ga ciya kurmu hal abada. Yaadin no Rabbi ci.
27Hãy dựng cờ xí trong đất; thổi kèn trong các nước; sửa soạn các dân đánh nó! Hãy gọi những nước A-ra-rát, Min-ni, Ách-kê-na, đến đánh nó! Hãy lập một quan tướng đạo binh! Hãy khiến những ngựa lên như cào cào!
27 Wa seeda liiliwal sinji laabo ra. Wa hilli kar ndunnya dumey kulu ra, Wa ndunnya dumey fay waani hal i ma gaaba nd'a. Wa Ararat da Minni da Askenazu mayrayey ce, I ma margu a gaa. Wa wonkoy daŋ i se, Wa naŋ bariyey ma kaaru sanda do bi cine.
28Hãy sửa soạn các nước đánh nó, tức các vua Mê-đi, các quan cai trị nó, các quan đề hình nó, và cả đất mà những người ấy cai quản!
28 Wa ndunnya dumey fay waani zama i ma gaaba nd'a, Ngey: Medancey bonkooney da ngey yaarimey d'i mayraykoyey, D'a mayra laabo kulu.
29Ðất rúng động và sầu thảm, vì ý chỉ của Ðức Giê-hô-va nghịch cùng Ba-by-lôn đã đứng vững, để làm cho Ba-by-lôn thành ra hoang vu không có dân ở.
29 Laabo goono ga zinji, a goono ga kuubi nda doori, Zama Rabbi waadey kaŋ a soola Babila boŋ ga kay a gaa, Sanda i ma Babila laabo ciya saaji fimbi kaŋ sinda goroko.
30Những lính chiến của Ba-by-lôn thôi đánh, cứ ở trong các đồn lũy; sức chúng nó đã kiệt, trở nên giống như đờn bà. Nhà của nó bị đốt, then gài cửa nó bị bẻ.
30 Babila wane gaabikooney na wongu naŋ, I koy ka goro ngey wongu fu gaabikooney ra. I gaabo gaze, i ciya sanda wayboroyaŋ. Babila windey, danji n'i ŋwa. A kwaara meyey gaa karangaley ceeri-ceeri.
31Lính trạm gặp nhau, sứ giả đụng đầu đặng báo tin cho vua Ba-by-lôn rằng thành vua ấy bị đánh lấy khắp tư bề,
31 Zaji fo ga tun da zuray zama nga ma kubay d'afo, Diya fo mo ga koy ka kubay d'afo, Zama i ma ci Babila bonkoono se kaŋ wongu n'a gallo me-d'a-me ŋwa.
32đò giang bị chiếm giữ, đồng lầy bị đốt cháy bằng lửa, và những lính chiến đã hoảng hồn.
32 I na isa yawyaŋ nangey di, I na danji daŋ farrey gaa, Wongaarey mo jijiri nda humburkumay.
33Vì Ðức Giê-hô-va vạn quân, Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Con gái Ba-by-lôn giống như sân đạp lúa đến kỳ đạp lúa; còn ít lâu nữa, kỳ mùa gặt sẽ đến cho nó.
33 Zama yaa no Rabbi Kundeykoyo, Israyla Irikoyo ci: Babila ize wayo ga hima sanda karayaŋ gangani waati kaŋ cine i goono g'a kara. D'a gay kayna mo, kala fari wiyaŋ waate no ga kaa a gaa.
34Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã nuốt ta, nghiền ta; bỏ ta như bình trống không; nuốt ta như con vật lớn; lấy của ngon ta làm no bụng người; đuổi ta ra khỏi.
34 Babila bonkoono Nebukadnezzar n'ay ŋwa ka ban, A n'ay naan, a n'ay jisi danga kusu koonu cine. A n'ay gon sanda mate kaŋ dodo-beeri ga te cine, A na nga gunda toonandi da ay bine baakasinay harey, Gaa no a n'ay yeeri.
35Dân cư Si-ôn sẽ nói rằng: Nguyền sự bạo ngược đã làm cho ta, và xác thịt ta xuống trên Ba-by-lôn! Giê-ru-sa-lem sẽ nói rằng: Nguyền cho huyết ta đổ trên dân cư Canh-đê!
35 Sihiyona gorokwa ga ne: Toonye kaŋ i te ay se d'ay gaa-baso se, a m'a bare ka ye Babila boŋ. Urusalima ga ne: Ay kuro alhakko ma ye Kaldiya gorokoy boŋ.
36Vậy nên, Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ đối nại việc ngươi, trả thù cho ngươi; ta sẽ làm khô biển nó và làm cạn tắt nguồn nó.
36 Yaa no Rabbi ci: Woodin se binde, Guna, ay go ni se, Ay ma faasa ni se ka alhakku toonanta bana ni sabbay se. Ay ma Babila isa beero koogandi, Ay m'a hari-moy sundandi.
37Ba-by-lôn sẽ trở nên đống hư nát, hang chó rừng, trò gở lạ và xỉ báng, không có dân ở nữa.
37 Babila ga ciya laabu guyaŋ, Zoŋoyaŋ nangoray, da humburandiyaŋ hari, Da donda-caray hari, kaŋ sinda goroko.
38Chúng nó sẽ cùng nhau gầm thét như sư tử tơ, rống như sư tử con.
38 I ga dundu care banda sanda muusu beeri izeyaŋ, I ga kaati sanda muusu hay-tajiyaŋ cine.
39Khi chúng nó càng nóng nảy lắm, ta sẽ dọn tiệc cho, và làm cho say, hầu cho chúng nó được vui mừng, và ngủ một giấc đời đời, không thức dậy nữa; Ðức Giê-hô-va phán vậy.
39 Waati kaŋ i maa korni, Ay wo ga foori te i se, Ay g'i bugandi zama i ma farhã. I ma kani mo ka jirbi hal abada. I mo ma si ye ka hay koyne. Yaadin no Rabbi ci.
40Ta sẽ làm cho chúng nó xuống hàng thịt như chiên con, chiên đực, và dê đực vậy.
40 Ay g'i boy sanda feej'izeyaŋ kaŋ i goono ga konda wiyaŋ do, Sanda feeji gaaru nda hincin jindi yaŋ cine.
41Sê-sác đã bị chiếm lấy, và thành mà cả thiên hạ đều ngợi khen đã bị bắt là thể nào! Ba-by-lôn đã trở nên sự hoang vu giữa các nước là thể nào!
41 Dambara hari no kaŋ i na Sesak ŋwa! Ndunnya kulu zamuuyaŋo, wongu n'a di! Babila ciya kurmu ndunnya dumey game ra!
42Biển lên ngập Ba-by-lôn, nó bị muôn vàn luồng sóng bao bọc lấy.
42 Teeko furo Babila ra, Hal a yoole teeku bonday beerey ra.
43Các thành nó đã trở nên hoang vu, đất khô, nơi sa mạc, đất không dân ở, không con người nào đi qua.
43 A galley ciya kurmu yaŋ da gangani kogo da batama falulle, laabu kaŋ boro kulu si goro a ra, Adam-ize kulu si no kaŋ ga gana ka bisa a ra.
44Ta sẽ đoán phạt Bên trong Ba-by-lôn, sẽ móc vật nó đã nuốt ra khỏi miệng nó; các nước sẽ chẳng đổ về nó nữa. Tường thành Ba-by-lôn cũng sẽ xiêu đổ!
44 Ay ga bana Bel gaa Babila ra. Haŋ kaŋ a gon mo, ay g'a kaa a meyo ra. Ndunnya dumey si ye ka ceeri ka ye a do koyne. Oho, baa Babila birno cinaro ga kaŋ.
45Hỡi dân ta, hãy ra khỏi giữa nó, ai nấy khá cứu mình khỏi cơn giận phừng phừng của Ðức Giê-hô-va!
45 Ay jama, ma fatta a bindo ra, Boro fo kulu ma nga boŋ faaba Rabbi futay korna gaa.
46Lòng các ngươi chớ nhút nhát, chớ sợ hãi vì những tin đồn ra trong đất nầy. Vì năm nay một tin đồn đến, rồi sau năm khác cũng có tin đồn; có sự bạo ngược trong đất, kẻ cai trị nghịch cùng kẻ cai trị.
46 Araŋ biney ma si yangala, Araŋ ma si humburu mo baaro kaŋ i ga maa laabo ra din sabbay se. Zama baaru fo ga kaa jiiri filaana ra, Yeesi fo mo baaru fo koyne ga kaa. Toonye goy ga bara laabo ra, Mayraykoyey ga yanje nda care.
47Vậy nên, nầy, những ngày đến, ta sẽ đoán phạt các tượng chạm của Ba-by-lôn; cả đất nó sẽ bị xấu hổ; những người bị giết sẽ ngã xuống giữa nó.
47 A go binde, jirbiyaŋ goono ga kaa kaŋ ay ga alhakku bana Babila toorey gaa. Laabo me-a-me mo ga haaw. A borey kulu kaŋ yaŋ i wi ga kaŋ a bindo ra mo.
48Lúc đó, các từng trời, đất, và mọi vật trên đất đều cất tiếng reo vui vì Ba-by-lôn; vì những kẻ hủy hại từ các miền phương bắc áo đến trên nó, Ðức Giê-hô-va phán vậy.
48 Waato din gaa beene nda ganda nda hay kulu kaŋ go i ra ga kuuwa Babila boŋ farhã sabbay se. Zama borey kaŋ g'a ku wongu ra ga fun azawa kambe ka kaa a gaa. Yaadin no Rabbi ci.
49Như Ba-by-lôn đã làm cho kẻ bị giết của Y-sơ-ra-ên ngã xuống, cũng vậy, kẻ bị giết của Ba-by-lôn cũng sẽ ngã xuống trong cả đất mình.
49 Oho, mate kaŋ cine Babila ga kaŋ Israyla waney kaŋ i wi yaŋ sabbay se, Yaadin cine no ndunnya kulu wiyantey mo ga kaŋ Babila sabbay se.
50Các ngươi là kẻ đã tránh khỏi gươm, hãy đi, đừng đứng lại! Từ phương xa hãy nhớ đến Ðức Giê-hô-va, và tưởng tới Giê-ru-sa-lem!
50 Araŋ kaŋ na takuba yana, wa koy! Wa si ye ka kay hinne! Wa fongu Rabbi gaa za araŋ go nangu mooro, Urusalima mo ma kaa araŋ laakalo ra.
51Chúng ta hổ ngươi vì sự sỉ nhục mà mình đã nghe; sự hổ thẹn đần mặt chúng ta; vì kẻ ngoại đã xâm vào nơi thánh của nhà Ðức Giê-hô-va.
51 Iri yaley bare zama iri maa wowyaŋ. Haawi n'iri moydumey daabu, Zama mebarawyaŋ furo Rabbi windo nangu hanantey ra.
52Vậy nên, Ðức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, ta sẽ đoán phạt các tượng chạm của Ba-by-lôn; cả trong đất nó, những người bị thương sẽ rên siếc.
52 Yaa no Rabbi ci: Jirbiyaŋ goono ga kaa kaŋ ay ga alhakku bana a toorey gaa. A laabo kulu ra mo borey kaŋ yaŋ maray da marayyaŋ laalo ga soobay ka duray.
53Dầu Ba-by-lôn dấy lên tận trời, dầu nó làm thành rất cao cho kiên cố, ta cũng sẽ sai những kẻ hủy hại đến nghịch cùng nó. Ðức Giê-hô-va phán vậy.
53 Baa day Babila ga kaaru hala beene, A ma nga wongu cinaro gaabandi noodin beene, Kulu nda yaadin ay ga halaciyankoyey donton a gaa. Yaadin no Rabbi ci.
54Từ Ba-by-lôn dấy lên tiếng khóc than, và tiếng hủy hoại lớn vang ra từ đất người Canh-đê!
54 Hẽeni jinde neeya kaŋ ga fun Babila, Da halaciyaŋ bambata mo kaŋ ga fun Kaldancey laabo ra!
55Vì Ðức Giê-hô-va làm cho Ba-by-lôn ra hoang vu, dứt tiếng ồn ào trong ấy. Sóng chúng nó gầm thét như nhiều nước; tiếng chúng nó vang ra.
55 Zama Rabbi ga ba ka Babila kaa koonu. Kosongu beero din ga ban a ra. I bondayey ga dundu sanda hari boobo yaŋ cine, Boro ga maa i jindey kosongo.
56Thật, kẻ tàn hại đã áo đến trên Ba-by-lôn. Những kẻ mạnh mẽ của nó bị bắt, cung chúng nó bị gãy; vì Ðức Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời hay báo trả, Ngài chắc sẽ báo trả cho.
56 Zama halacikwa ga kaa a gaa, Babila gaa nooya. A g'a wongaarey di k'i birawey ceeri-ceeri, Zama Rabbi ya Irikoy no kaŋ ga bana, Daahir a ga banandi toonante te.
57Ðức Vua, danh Ngài là Ðức Giê-hô-va vạn quân, phán: Ta sẽ làm cho say các quan trưởng, các kẻ khôn ngoan, các quan cai trị, các quan đề hình, cùng những lính chiến của nó; chúng nó sẽ ngủ một giấc đời đời và không tỉnh thức nữa.
57 Ay g'a mayraykoyey d'a laakalkooney d'a dabarikooney d'a yaarimey d'a wongaarey bugandi, I ga jirbi nda jirbi kaŋ ga duumi, kaŋ i mo si hay, Yaadin no Koy Beero kaŋ a maa ga ti Rabbi Kundeykoyo ci.
58Ðức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Tường thành Ba-by-lôn dầu rộng lắm, sẽ bị đổ xuống hết, cửa nó dầu cao lắm, sẽ bị lửa đốt cháy. Ấy vậy, các dân khó nhọc mà chẳng được gì, các nước làm việc cho lửa, và đều mệt mỏi.
58 Yaa no Rabbi Kundeykoyo ci: I ga Babila birni cinari tafey hibandi parkatak, I g'a me daabirji kuukey ton da danji. Dumey taabo ga ciya yaamo, Dumey na ngey boŋ fargandi day no danji se.
59Nầy là lời của tiên tri Giê-rê-mi dặn Sê-ra-gia, con trai Nê-ri-gia, cháu Na-ha-sê-gia, khi người đi với Sê-đê-kia vua Giu-đa qua nước Ba-by-lôn trong năm thứ tư đời vua ấy. Bấy giờ Sê-ra-gia làm quan nội đại thần.
59 Sanno kaŋ annabi Irimiya na Seraya Neriya izo Maaseya ize lordi nd'a neeya, waato kaŋ a koy Babila Yahuda bonkoono Zedeciya banda a koytaray jiiri taacanta ra. (Seraya wo binde, naaruyaŋ muraadu feeriko no.)
60Giê-rê-mi chép vào sách hết thảy các tai nạn phải đến cho Ba-by-lôn, tức mọi lời đã được chép về Ba-by-lôn.
60 Irimiya mo hantum tira ra masiiba kulu kaŋ ga kaa ka kaŋ Babila boŋ, sanda sanney kulu kaŋ i hantum Babila boŋ nooya.
61Giê-rê-mi nói với Sê-ra-gia rằng: Khi ngươi đã đến Ba-by-lôn, khá lo đọc hết những lời nầy.
61 Irimiya ne Seraya se: «Da ni to Babila, kala ni ma sanney wo kulu caw k'i fe _jama se|_.
62Rồi ngươi khá nói: Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài đã phán rằng sẽ hủy diệt thành nầy, và nơi nầy sẽ không ai ở nữa, từ loài người cho chí loài vật cũng không, song sẽ nên một nơi hoang vu đời đời.
62 Gaa no ni ma ne: ‹Ya Rabbi, nin no ka salaŋ kwaaro wo boŋ, ni ne a ga halaci hala goroko kulu si cindi a ra, za boro ka koy alman, amma nango ga ciya kurmu hal abada.›
63Khi ngươi đã đọc sách nầy xong, thì khá cột vào sách một cục đá, mà ném xuống giữa sông Ơ-phơ-rát,
63 A ga ciya binde, da ni na tira caw ka ban, kala ni ma tondi haw a gaa k'a catu Ufratis isa bindo ra.
64và khá nói rằng: Ba-by-lôn sẽ chìm xuống như vậy! Nó sẽ chẳng còn chổi dậy nữa vì tai nạn mà ta sẽ giáng trên nó, chúng nó sẽ mài miệt. Lời của Giê-rê-mi đến đây.
64 Ni ma ne koyne: ‹Yaawo no Babila ga miri nd'a, kaŋ a si ye ka tun koyne, masiiba kaŋ ay ga candi ka kande a gaa din sabbay se.› » Irimiya sanney me nooya.