1Phước cho những người trọn vẹn trong đường lối mình, Ði theo luật pháp của Ðức Giê-hô-va,
1 Albarkanteyaŋ no borey kaŋ yaŋ ga gaabu cimi fonda gaa, Kaŋ yaŋ goono ga dira Rabbi asariya ra.
2Phước cho những người gìn giữ chứng cớ Ngài, Và hết lòng tìm cầu Ngài.
2 Albarkanteyaŋ no borey din kaŋ g'a seedey haggoy, I goono g'a ceeci mo da ngey bine kulu.
3Họ không làm trái phép công bình, Nhưng đi trong các lối Ngài.
3 Oho, borey din si adilitaray-jaŋay goy te, I goono ga dira a fondey ra.
4Chúa đã truyền cho chúng tôi các giềng mối Chúa, Hầu cho chúng tôi cẩn thận giữ lấy.
4 Nin no k'iri lordi nda ni dondonandiyaŋey, Zama iri m'i haggoy da anniya.
5Ô! chớ chi đường lối tôi được vững chắc, Ðể tôi giữ các luật lệ Chúa!
5 Doŋ day ay muraadey ma sinji mate kaŋ cine ay ga ni hin sanney haggoy d'a!
6Khi tôi chăm chỉ về các điều răn Chúa, Thì chẳng bị hổ thẹn.
6 Saaya din haawi s'ay di alwaati kaŋ cine ay na laakal ye ni lordey kulu gaa.
7Khi tôi học các đoán ngữ công bình của Chúa, Thì tôi sẽ lấy lòng ngay thẳng mà ngợi khen Chúa.
7 Waati kaŋ cine ay na ni ciiti adilantey dondon, Ay ga saabu ni se da bine kaŋ ga saba.
8Tôi sẽ giữ các luật lệ Chúa; Xin chớ bỏ tôi trọn.
8 Ay ga ni hin sanney haggoy. Ma s'ay furu baa kayna!
9Ngươi trẻ tuổi phải làm sao cho đường lối mình được trong sạch? Phải cẩn thận theo lời Chúa.
9 Ifo no arwasu ga nga muraadey hanandi nd'a? To, kal a m'i haggoy ni sanno boŋ.
10Tôi hết lòng tìm cầu Chúa, Chớ để tôi lạc các điều răn Chúa.
10 Ay bina kulu no ay na ni ceeci nd'a. Ma si naŋ ya daray ni lordey gaa.
11Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, Ðể tôi không phạm tội cùng Chúa.
11 Ay na ni sanno tugu ay bina ra, Zama ay ma si zunubi te ni se.
12Hỡi Ðức Giê-hô-va, đáng ngợi khen Ngài. Xin dạy tôi các luật lệ Ngài.
12 Ya Rabbi, ni ya albarkakoy no. M'ay dondonandi ni hin sanney.
13Tôi lấy môi thuật lại Các mạng lịnh miệng Chúa phán ra.
13 Ni me farilley kulu, ay n'i ci d'ay meyo.
14Tôi vui mừng về đường chứng cớ Chúa, Như thể vui mừng về của cải hiếm hiệm.
14 Ni seedey ganayaŋ g'ay farhandi, Sanda arzaka farhã himandi cine.
15Tôi sẽ suy gẫm về giềng mối Chúa, Chăm xem đường lối của Chúa.
15 Ay ga soobay ka ni dondonandiyaŋey miila, Ay ma laakal da ni fondey.
16Tôi ưa thích luật lệ Chúa, Sẽ chẳng quên lời của Chúa.
16 Ay ga bine kaani te ni hin sanney ra, Ay si dinya ni sanno mo.
17Xin Chúa ban ơn lành cho tôi tớ Chúa, để tôi được sống; Thì tôi sẽ giữ lời của Chúa.
17 Ma yulwandi ay, ni tamo se zama ay ma funa, Ay ma ni sanno haggoy mo.
18Xin Chúa mở mắt tôi, để tôi thấy Sự lạ lùng trong luật pháp của Chúa.
18 M'ay moy fiti zama ya guna ka di ni asariya ra dambara harey.
19Tôi là người khách lạ trên đất, Xin chớ giấu tôi các điều răn Chúa.
19 Ay ya yaw no ndunnya ra, ma si ni lordey tugu ay se.
20Linh hồn tôi hao mòn vì mong ước Các mạng lịnh Chúa luôn luôn.
20 Ay bina ga yalla-yalla da ni farilley duumi.
21Chúa quở trách kẻ kiêu ngạo, Là kẻ đáng rủa sả, hay lầm lạc các điều răn Chúa.
21 Ni kaseeti boŋbeeraykoyey gaa kaŋ laali hariyaŋ no, Ngey kaŋ yaŋ ga daray ka mooru ni lordey gaa.
22Xin lăn khỏi tôi sự sỉ nhục và sự khinh dể; Vì tôi gìn giữ các chứng cớ của Chúa,
22 Ma wowi nda donda-caray hibandi ka kaa ay gaa, Zama ay na ni seedey haggoy.
23Vua chúa cũng ngồi nghị luận nghịch tôi; Song tôi tớ Chúa suy gẫm luật lệ Chúa.
23 Baa kaŋ mayraykoyey goro ka fakaaray ka gaaba nda ay, Kulu nda yaadin ay, ni tamo ga soobay ka ni hin sanney miila.
24Các chứng cớ Chúa là sự hỉ lạc tôi, Tức là những mưu sĩ tôi.
24 Ni seedey, ngey no ga ti ay kaani maayaŋ, Ngey mo no ga ti ay saawarekasiney.
25Linh hồn tôi dính vào bụi đất, Xin hãy khiến tôi sống lại tùy theo lời Chúa.
25 Ay fundo go ga laabo naan, M'ay funandi ni sanno boŋ.
26Tôi đã tỏ với Chúa đường lối tôi, Chúa bèn đáp lời tôi; Xin hãy dạy tôi các luật lệ Chúa.
26 Ay n'ay fondey bangandi, ni tu ay se mo. M'ay dondonandi ni hin sanney.
27Cầu Chúa làm cho tôi hiểu biết con đường giềng mối Chúa, Thì tôi sẽ suy gẫm các công việc lạ lùng của Chúa.
27 M'ay fahamandi nda ni dondonandiyaŋ fondey, Yaadin gaa no ay ga ni dambara goyey miila.
28Linh hồn tôi, vì ưu sầu, chảy tuôn giọt lệ; Xin hãy làm cho tôi vững bền tùy theo lời Chúa.
28 Ay bina hẽ tiŋay sabbay se, M'ay gaabandi ni sanno boŋ.
29Xin hãy dang xa tôi con đường dối trá, Làm ơn cho tôi biết luật pháp Chúa.
29 M'ay wa da tangari fondo, M'ay no ni asariya mo ni gomno boŋ.
30Tôi đã chọn con đường thành tín, Ðặt mạng lịnh Chúa trước mặt tôi.
30 Ay na naanay fondo suuban, Ay na ni farilley daŋ ay jine.
31Tôi tríu mến các chứng cớ Chúa: Ðức Giê-hô-va ôi! xin chớ cho tôi bị hổ thẹn.
31 Ay goono ga sandandi ni seedey gaa. Ya Rabbi, ma s'ay haawandi!
32Khi Chúa mở rộng lòng tôi, Thì tôi sẽ chạy theo con đường điều răn Chúa.
32 Zuray no ay ga ni lordey fonda gana nd'a, Zama ni g'ay bina hayandi.
33Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin chỉ dạy tôi con đường luật lệ Chúa, Thì tôi sẽ giữ lấy cho đến cuối cùng.
33 Ya Rabbi, m'ay dondonandi ni hin sanney fonda, Ay mo g'a haggoy hala bananta.
34Xin hãy ban cho tôi sự thông sáng, thì tôi sẽ vâng theo luật pháp Chúa, Aét sẽ hết lòng gìn giữ lấy.
34 M'ay no fahamay zama ay ma laakal ye ni asariya gaa k'a te, Daahir, ay g'a gana nd'ay bina kulu.
35Xin hãy khiến tôi đi trong đường điều răn Chúa, Vì tôi lấy làm vui vẻ tại đó.
35 M'ay daŋ ay ma ni lordey fonda gana, Zama a ra no ay ga maa kaani.
36Xin hãy khiến lòng tôi hướng về chứng cớ Chúa, Chớ đừng hướng về sự tham lam.
36 M'ay bina bare ni seedey do haray, Manti zamba arzaka do haray bo.
37Xin xây mắt tôi khỏi xem những vật hư không, Làm tôi được sống trong các đường lối Chúa.
37 M'ay moy hibandi ka kaa hari yaamo gunayaŋ gaa, M'ay funandi mo ni fondey ra.
38Xin Chúa làm ứng nghiệm lời Chúa cho kẻ tôi tớ Chúa, Tức là kẻ kính sợ Chúa.
38 Ma ni sanno tabbatandi ay, ni tamo se, Kaŋ ga naŋ boro ma humburu nin.
39Xin hãy cất khỏi tôi sự sỉ nhục mà tôi sợ sệt; Vì mạng lịnh Chúa là tốt lành.
39 Ma wowo kaŋ ay ga humburu din bare, Zama ni farilley ya ihannoyaŋ no.
40Kìa, tôi mong ước các giềng mối Chúa; Xin hãy khiến tôi được sống trong sự công bình Chúa.
40 A go, ay go ga yalla-yalla nda ni dondonandiyaŋey, M'ay funandi ni adilitara ra.
41Hỡi Ðức Giê-hô-va, nguyện sự nhơn từ Ngài đến cùng tôi, Tức là sự cứu rỗi của Ngài tùy lời phán Ngài!
41 Ya Rabbi, ni baakasinay suujey ma kaa ka to ay do, Ni faaba do, ni sanno boŋ.
42Vậy, tôi sẽ có thế đáp lại cùng kẻ làm sỉ nhục tôi; Vì tôi tin cậy nơi lời Chúa.
42 Yaadin gaa no ay ga du haŋ kaŋ ay ga tu d'a ay wowkwa se, Zama ay go ga de ni sanno gaa.
43Xin chớ cất hết lời chơn thật khỏi miệng tôi; Vì tôi trông cậy nơi mạng lịnh Chúa.
43 Ma si cimi sanno ta ka ban ay meyo ra pat, Zama ay n'ay beeja daŋ ni farilley gaa.
44Tôi sẽ hằng gìn giữ luật pháp Chúa Cho đến đời đời vô cùng.
44 Yaadin gaa no ay ga ni asariya haggoy duumi, Hal abada abadin.
45Tôi cũng sẽ bước đi thong dong, Vì đã tìm kiếm các giềng mối Chúa.
45 Ay ga dira laakal kanay ra mo, Zama ay na ni dondonandiyaŋey ceeci.
46Cũng sẽ nói về chứng cớ Chúa trước mặt các vua, Không phải mất cỡ chút nào.
46 Ay ga ni seedey ci bonkooniyaŋ jine, Haawi s'ay di mo.
47Tôi sẽ vui vẻ về điều răn Chúa, Là điều răn tôi yêu mến.
47 Ni lordey mo no ay ga te bine kaani d'a, Ay ga ba r'ey mo.
48Tôi cũng sẽ giơ tay lên hướng về điều răn Chúa mà tôi yêu mến, Và suy gẫm các luật lệ Chúa.
48 Ay g'ay kambey salle mo ni lordey do haray, Ay ga ba r'ey mo. Ay ga ni hin sanney mo miila.
49Xin Chúa nhớ lại lời Chúa phán cho tôi tớ Chúa, Vì Chúa khiến tôi trông cậy.
49 Ma fongu sanno kaŋ ni te ay, ni tamo se gaa, Wo kaŋ ni n'ay daŋ ay ma beeje sinji a gaa.
50Lời Chúa làm cho tôi được sống lại, Ấy là sự an ủi tôi trong cơn hoạn nạn.
50 Woodin no ga ti ay kunfa ay kankamo ra, Zama ni sanno n'ay funandi.
51Kẻ kiêu ngạo nhạo báng tôi nhiều quá, Nhưng tôi không xây bỏ luật pháp Chúa.
51 Boŋbeeraykoyey donda ay gumo, Kulu nda yaadin ay mana mulay ka fun ni asariya ra.
52Hỡi Ðức Giê-hô-va, tôi đã nhớ lại mạng lịnh Ngài khi xưa, Nên tôi được an ủi.
52 Ya Rabbi, ay fongu ni waato farilley, Ay du yaamaryaŋ mo.
53Nhơn vì kẻ ác bỏ luật pháp Chúa. Cơn giận nóng nảy hãm bắt tôi.
53 Ay dukur gumo laalakoyey kaŋ yaŋ ga fay da ni asariya sabbay se.
54Các luật lệ Chúa làm bài hát tôi Tại nhà tôi ở làm khách lạ.
54 Ni hin sanney ciya ay se baytuyaŋ ay yawtaray nangorayey ra.
55Hỡi Ðức Giê-hô-va, ban đêm tôi nhớ lại danh Ngài, Cũng gìn giữ luật pháp Ngài.
55 Ya Rabbi, ay fongu ni maa gaa cin, Ay na ni asariya haggoy mo.
56Phần tôi đã được, Là vì tôi có gìn giữ các giềng mối Chúa.
56 Woodin ay doona k'a te, Zama ay na ni dondonandiyaŋey haggoy.
57Ðức Giê-hô-va là phần của tôi: Tôi đã nói sẽ gìn giữ lời Chúa.
57 Rabbi no ga ti ay baa. Ay jin ka ci kaŋ ay ga ni sanney haggoy k'i te mo.
58Tôi đã hết lòng cầu khẩn ơn Chúa, Xin hãy thương xót tôi tùy lời của Chúa.
58 Ay bina kulu no ay na ni ceeci nd'a, Ma bakar ay se ni alkawlo boŋ.
59Tôi tư tưởng về đường lối tôi, Bèn trở bước tôi về chứng cớ Chúa.
59 Ay fongu ay muraadey gaa, Ay n'ay cey bare mo ka ye ni seedey do haray.
60Tôi lật đật, không chậm trễ, Mà gìn giữ các điều răn Chúa.
60 Ay cahã, yana dirgay, zama ay ma ni lordey haggoy.
61Dây kẻ ác đã vương vấn tôi; Nhưng tôi không quên luật pháp Chúa.
61 Laalakoyey korfey n'ay didiji-didiji, Amma ay mana dinya ni asariya gaa.
62Nhơn vì các mạng lịnh công bình của Chúa, Tôi sẽ thức-dậy giữa đêm đặng cảm tạ Chúa.
62 Cin bindi no ay ga tun zama ay ma saabu ni se, Ni farilla adilitaraykoyey sabbay se.
63Tôi là bạn hữu của mọi người kính sợ Chúa, Và của mọi kẻ giữ theo các giềng mối Chúa.
63 Ay ya gorokasin no borey kulu kaŋ ga humburu nin se, Da borey kaŋ yaŋ ga haggoy da ni dondonandiyaŋey mo se.
64Hỡi Ðức Giê-hô-va, đất được đầy dẫy sự nhơn từ Ngài; Xin hãy dạy tôi các luật lệ Ngài.
64 Ya Rabbi, ndunnya go toonante da ni baakasinay suujo. M'ay dondonandi ni hin sanney.
65Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài đã hậu đãi kẻ tôi tớ Ngài Tùy theo lời của Ngài.
65 Ya Rabbi, ma gomni te ay, ni tamo se ni sanno boŋ.
66Xin hãy dạy tôi lẽ phải và sự hiểu biết, Vì tôi tin các điều răn Chúa.
66 M'ay dondonandi fayanka hanno nda bayray mo, Zama ay na ni lordey cimandi.
67Trước khi chưa bị hoạn nạn, thì tôi lầm lạc; Nhưng bây giờ tôi gìn giữ lời Chúa.
67 Za ay mana di kayna ay na fondo taŋ, Amma sohõ ay ga haggoy da ni sanno.
68Chúa là thiện và hay làm lành; Xin hãy dạy tôi các luật lệ Chúa.
68 Ni ya booriyankoy no, ni ga booriyaŋ goy te mo. M'ay dondonandi ni hin sanney.
69Kẻ kiêu ngạo đã đặt lời nói dối hại tôi; Tôi sẽ hết lòng gìn giữ giềng mối của Chúa.
69 Boŋbeeraykoyey na tangari haawa ay gaa, Amma ay wo, ay ga ni dondonandiyaŋey haggoy d'ay bina kulu.
70Lòng chúng nó dày như mỡ, Còn tôi ưa thích luật pháp của Chúa.
70 I biney naasu gumo, Amma ay wo goono ga farhã ni asariya ra.
71Tôi đã bị hoạn nạn thật lấy làm phải, Hầu cho học theo luật lệ của Chúa.
71 A boori ay se kaŋ ay di kayna, Kaŋ ga naŋ ay ma ni hin sanney dondon.
72Luật pháp của miệng Chúa phán là quí cho tôi Hơn hằng ngàn đồng vàng và bạc.
72 Ay wo do ni meyo ra asariya bisa wura da nzarfu zambarey.
73Bàn tay Chúa đã làm tôi và nắn hình tôi; Xin hãy ban cho tôi trí hiểu, để tôi học điều răn Chúa.
73 Ni kambey no k'ay te, k'ay cina mo. M'ay no fahamay hal ay ma ni lordey dondon.
74Những người kính sợ Chúa thấy tôi sẽ vui vẻ; Vì tôi trông cậy lời của Chúa.
74 Borey kaŋ yaŋ ga humburu nin ma di ay ka farhã, Zama ay na beeje daŋ ni sanno gaa.
75Hỡi Ðức Giê-hô-va, tôi biết rằng sự xét đoán của Ngài là công bình, Và ấy là bởi sự thành tín mà Ngài làm cho tôi bị khổ nạn.
75 Ya Rabbi, ay bay kaŋ ni ciitey ya adilitaray wane yaŋ no, Naanay ra mo no ni n'ay kankam.
76Chúa ơi, nguyện sự nhơn từ Chúa an ủi tôi, Y như Chúa đã phán cùng kẻ tôi tớ Chúa.
76 Ay ga ni ŋwaaray, Ma naŋ ni baakasinay suujo ma ciya yaamaryaŋ hari ay se, Ni alkawlo boŋ ay, ni tamo se.
77Nguyện sự thương xót Chúa đến cùng tôi, để tôi được sống; Vì luật pháp Chúa là điều tôi ưa thích.
77 Ni bakarawo ma kaa ka to ay do hal ay ma funa, Zama ni asariya no ga ti ay kaani maayaŋ.
78Nguyện kẻ kiêu ngạo bị hổ thẹn, vì chúng nó dùng sự giả dối mà đánh đổ tôi; Song tôi sẽ suy gẫm các giềng mối Chúa.
78 Haawi ma boŋbeeraykoyey di zama i n'ay zamba nda tangari, Amma ay wo, kala ay ma ni dondonandiyaŋey miila.
79Nguyện những kẻ kính sợ Chúa Trở lại cùng tôi, thì họ sẽ biết chứng cớ của Chúa.
79 Borey kaŋ yaŋ ga humburu nin, Da borey kaŋ yaŋ ga ni seedey bay mo ma bare ka ye ay do haray.
80Nguyện lòng tôi được trọn vẹn trong các luật lệ Chúa, Hầu cho tôi không bị hổ thẹn.
80 Ay bina ma ciya cimi-toonante-koy ni hin sanney ra, zama ay ma si haaw.
81Linh hồn tôi hao mòn vì mong ước sự cứu rỗi của Chúa; Song tôi trông cậy lời của Chúa.
81 Ay fundo go ga yangala ni faaba batuyaŋ se, Amma ay g'ay beeje sinji ni sanno gaa.
82Mắt tôi hao mòn vì mong ước lời Chúa; Tôi nói: Bao giờ Chúa sẽ an ủi tôi?
82 Ay moy gaze, kaŋ ay goono ga ni alkawlo hangan. Ay goono ga ne: «Waati fo no ni g'ay yaamar?»
83Vì tôi trở thành như bầu da bị khói đóng đen; Nhưng tôi không quên các luật lệ Chúa.
83 Baa kaŋ ay ciya sanda humbur _kaŋ suugu|_ dullu ra, Kulu nda yaadin ay mana dinya ni hin sanney gaa.
84Số các ngày kẻ tôi tớ Chúa được bao nhiêu? Chừng nào Chúa sẽ đoán xét những kẻ bắt bớ tôi?
84 Ay, ni tamo jirbey, jirbi marge no? Waati fo no ni ga ciiti toonandi borey kaŋ goono g'ay gurzugandi yaŋ boŋ?
85Kẻ kiêu ngạo đã đào hầm hại tôi, Là việc chẳng làm theo luật pháp của Chúa.
85 Boŋbeeraykoyey na guusu hirrimi te ay se, Ngey kaŋ si ni asariya gana.
86Các điều răn Chúa là thành tín; Thiên hạ dùng sự giả dối bắt bớ tôi; xin Chúa giúp đỡ tôi.
86 Ni lordey kulu ya naanaykoyyaŋ no. Borey goono g'ay gurzugandi nda tangari. M'ay gaa!
87Thiếu điều chúng nó diệt tôi khỏi mặt đất; Nhưng tôi không lìa bỏ các giềng mối Chúa.
87 Kayna ka cindi i m'ay ŋwa ka ban laabo ra, Amma ay mana ni dondonandiyaŋey furu.
88Xin hãy làm cho tôi được sống, tùy theo sự nhơn từ Chúa, Thì tôi sẽ gìn giữ chứng cớ của miệng Chúa.
88 M'ay funandi ni baakasinay suujo boŋ, Ay mo ga ni meyo seedey haggoy.
89Hỡi Ðức Giê-hô-va, lời Ngài được vững lập đời đời trên trời:
89 Ya Rabbi, ni sanno sinji beene hal abada.
90Sự thành tín Chúa còn đời nầy đến đời kia. Chúa đã lập trái đất, đất còn vững bền.
90 Ni naanayo go no zamana kulu se, Ni na ndunnya sinji, nga mo go, a kay.
91Tùy theo mạng lịnh Chúa, các điều đó còn vững đến ngày nay; Vì muôn vật đều hầu việc Chúa.
91 I kulu goro hunkuna ni farilley boŋ, Zama hay kulu ya ni tam no.
92Nên luật pháp Chúa không làm sự tôi ưa thích, Aét tôi đã bị diệt vong trong cơn hoạn nạn.
92 Da manti kaŋ ni asariya no ga ti ay kaani maayaŋo, Doŋ ay halaci ay kankamo ra.
93Tôi chẳng hề quên giềng mối Chúa, Vì nhờ đó Chúa làm cho tôi được sống.
93 Ay si dinya ni dondonandiyaŋey abada, Zama ngey no ni n'ay funandi nd'a.
94Tôi thuộc về Chúa, xin hãy cứu tôi; Vì tôi tìm kiếm các giềng mối Chúa.
94 Ay ya ni wane no. M'ay faaba, zama ay na ni dondonandiyaŋey ceeci.
95Những kẻ ác rình giết tôi; Nhưng tôi chăm chỉ về các chứng cớ Chúa,
95 Laalakoyey n'ay batandi zama ngey m'ay halaci se, Amma ay ga laakal ye ni seedey gaa.
96Tôi đã thấy sự cùng tận của mọi vật trọn vẹn; Song luật pháp Chúa lấy làm rộng thay.
96 Ay di kaŋ haŋ kaŋ kubay kulu gonda me, Amma ni lordo wo ga tafay gumo.
97Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy.
97 Ay ga ba ni asariya hala mate kaŋ sinda misa. Fonguyaŋ hari no ay se zaari me-a-me.
98Các điều răn Chúa làm cho tôi khôn ngoan hơn kẻ thù nghịch tôi, Vì các điều răn ấy ở cùng tôi luôn luôn.
98 Ni lordey n'ay no laakal hala ay bisa ay ibarey laakal, Zama ni lordey go ay jine duumi.
99Tôi có trí hiểu hơn hết thảy kẻ dạy tôi, Vì tôi suy gẫm các chứng cớ Chúa.
99 Ay gonda fahamay ka bisa borey kaŋ yaŋ n'ay dondonandi kulu, Zama ni seedey no ga ti fonguyaŋ hari ay se.
100Tôi thông hiểu hơn kẻ già cả, Vì có gìn giữ các giềng mối Chúa.
100 Ay gonda fahamay ka bisa dottijo zeeney, Zama ay na ni dondonandiyaŋey haggoy.
101Tôi giữ chơn tôi khỏi mọi đường tà, Ðể gìn giữ lời của Chúa.
101 Ay n'ay cey hibandi ka kaa laala fondey kulu ra, Zama ay ma laakal da ni sanno, k'a gana.
102Tôi không xây bỏ mạng lịnh Chúa; Vì Chúa đã dạy dỗ tôi.
102 Ay mana kamba ka fay da ni farilley, Zama nin no k'ay dondonandi.
103Lời Chúa ngọt họng tôi dường bao! Thật ngọt hơn mật ong trong miệng tôi!
103 Ni sanney ga kaan ay meyo se kaŋ sinda misa. Oho, i kaan da yu ay meyo ra.
104Nhờ giềng mối Chúa tôi được sự thông sáng; Vì vậy, tôi ghét mọi đường giả dối.
104 Ni dondonandiyaŋey do no ay ga du fahamay, Woodin se no ay konna tangari fondo kulu.
105Lời Chúa là ngọn đèn cho chơn tôi, Ánh sáng cho đường lối tôi.
105 Ni sanno ya fitilla no ay cey se, Kaari mo no ay fonda ra.
106Tôi đã thề gìn giữ mạng lịnh công bình của Chúa, Và cũng đã làm theo sự thề ấy.
106 Ay ze, ay g'a tabbatandi mo: Ay ga laakal da ni farilley kaŋ adilitaraykoyyaŋ no.
107Ðức Giê-hô-va ôi! tôi bị khổ nạn quá đỗi; Xin hãy làm cho tôi được sống tùy theo lời của Ngài.
107 Ay di kayna gumo. Ya Rabbi, m'ay funandi ni sanno boŋ.
108Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin hãy nhậm lễ lạc ý của miệng tôi, Và dạy dỗ tôi các mạng lịnh Ngài.
108 Ya Rabbi, ay ga ni ŋwaaray, Bine yadda sargayey kaŋ ga fun ay meyo ra ni m'i ta, M'ay dondonandi ni farilley mo.
109Mạng sống tôi hằng bị cơn nguy hiểm, Nhưng tôi không quên luật pháp Chúa.
109 Ay fundo go ay kamba ra duumi, Kulu nda yaadin ay si dinya ni asariya.
110Những kẻ ác gài bẫy hại tôi; Song tôi không lìa bỏ giềng mối Chúa.
110 Laalakoyey na kumsay hirri ay se, Amma ay mana kamba ka ni dondonandiyaŋey naŋ.
111Chứng cớ Chúa là cơ nghiệp tôi đến đời đời; Vì ấy là sự mừng rỡ của lòng tôi.
111 Ni seedey ciya ay se tubu kaŋ ga duumi, Zama ngey no ga ti ay bina kaani maayaŋo.
112Tôi chuyên lòng làm theo luật lệ Chúa Luôn luôn, và cho đến cuối cùng.
112 Ay n'ay bina ye ni hin sanney goy-teeyaŋ gaa hal abada, hala bananta.
113Tôi ghét những kẻ hai lòng, Nhơn yêu mến luật pháp của Chúa.
113 Ay ga konna bine-hinka-koyey, Amma ay ga ba ni asariya.
114Chúa là nơi ẩn náu và cái khiên của tôi; Tôi trông cậy nơi lời Chúa.
114 Nin no ga ti ay tuguyaŋ do d'ay korayo mo, Ay go ga beeje sinji ni sanno gaa.
115Hỡi kẻ làm ác, hỡi lìa khỏi ta, Ðể ta giữ điều răn của Ðức Chúa Trời ta.
115 Ya araŋ laala goy-teekoy, wa fay da ay, Zama ay m'ay Irikoyo lordey haggoy.
116Xin Chúa nâng đỡ tôi tùy lời của Chúa, hầu cho tôi được sống; Chớ để tôi bị hổ thẹn về sự trông cậy tôi.
116 M'ay gaay ni sanno boŋ hala ay ma funa, Ma si naŋ ya haaw mo ay beeja sabbay se.
117Xin hãy nâng đỡ tôi, thì tôi sẽ được bình an vô sự, Cũng thường thường chăm chỉ về các luật lệ của Chúa.
117 M'ay gaabandi, ay mo ga goro baani samay, Ay ga laakal ye ni hin sanney gaa mo duumi.
118Chúa từ chối những kẻ lầm lạc luật lệ Chúa; Vì mưu chước chúng nó chỉ là sự giả dối mà thôi.
118 Borey kulu kaŋ yaŋ ga kambe ka fay da ni hin sanney, Ni g'i furu, zama i halliyaŋey wo yaamo no.
119Chúa cất bỏ kẻ ác khỏi thế gian như xác bã; Nhơn đó tôi yêu mến các chứng cớ của Chúa.
119 Ni ga ndunnya boro laaley kulu kaa sanda guuru ziibi cine, Woodin se no ay ga ba ni seedey.
120Thịt tôi rỡn ốc vì sợ hãi Chúa, Cũng sợ sự đoán xét của Chúa.
120 Ay gaahamo goono ga jijiri ni humburkumay sabbay se, Ay ga humburu ni ciitey mo.
121Tôi đã làm điều ngay thẳng và công bình; Chớ phó tôi cho kẻ hà hiếp tôi.
121 Ay na cimi ciiti nda adilitaray te. Ma s'ay naŋ ay kankamkoy kambe ra.
122Xin Chúa làm Ðấng bảo lãnh cho kẻ tử tế Chúa được phước; Chớ để kẻ kiêu ngạo hà hiếp tôi.
122 Ma ciya yadda sambuko ay, ni tamo se booriyaŋ fonda ra, Ma si naŋ boŋbeeraykoyey m'ay kankam.
123Mắt tôi hao mòn vì mong ước sự cứu rỗi. Và lời công bình của Chúa.
123 Ay moy gaze ni faaba hanganyaŋ ciine ra, Da ni sanni adilanta* sabbay se mo.
124Xin hãy đãi kẻ tôi tớ Chúa theo sự nhơn từ Chúa, Và dạy tôi các luật lệ Chúa.
124 Ma goy ay, ni tamo se ni gomno boŋ, M'ay dondonandi ni hin sanney.
125Tôi là kẻ tôi tớ Chúa; xin hãy ban cho tôi sự thông sáng, Ðể tôi hiểu biết các chứng cớ của Chúa.
125 Ay ya ni tam no. M'ay no fahamay, zama ay ma ni seedey bay.
126Phải thì cho Ðức Giê-hô-va làm, Vì loài người đã phế luật pháp Ngài.
126 Alwaati to Rabbi se a ma goy, Zama i na ni asariya furu.
127Nhơn đó tôi yêu mến điều răn Chúa Hơn vàng, thậm chí hơn vàng ròng.
127 Day ay wo, ay ga ba ni lordey ka bisa wura, Oho, ka bisa wura hanno.
128Vì vậy, tôi xem các giềng mối Chúa về muôn vật là phải; Tôi ghét mọi đường giả dối.
128 Woodin sabbay se no ay ga di kaŋ ni dondonandiyaŋey kulu ga saba no. Ay ga konna tangari fondo kulu mo.
129Chứng cớ Chúa thật lạ lùng; Cho nên lòng tôi giữ lấy.
129 Ni seedey ya dambara hari yaŋ no, Woodin se no ay fundo g'i haggoy k'i gana.
130Sự bày giãi lời Chúa, soi sáng cho, Ban sự thông hiểu cho người thật thà.
130 Ni sanney feeriyaŋo ga kaari no, A ga fahamay no borey kaŋ si bay yaŋ kulu se.
131Tôi mở miệng ra thở, Vì rất mong ước các điều răn Chúa.
131 Ay n'ay meyo feeri ka fulanzam da gaabi, Zama ay goono ga yalla-yalla nda ni lordey.
132Xin Chúa hãy xây lại cùng tôi, và thương xót tôi, Y như thói thường Chúa đối cùng người yêu mến danh Chúa.
132 Ma bare ka ye ay do haray, ma gomni te ay se mo, Sanda mate kaŋ cine ni doona ka te ni maa baakoy se.
133Xin hãy làm cho bước tôi vững trong lời Chúa; Chớ để sự gian ác gì lấn lướt trên tôi.
133 M'ay cey kayandi ni sanno ra, Laala kulu dumi ma si du mayray ay boŋ.
134Xin hãy chuộc tôi khỏi sự hà hiếp của loài người, Thì tôi sự giữ theo các giềng mối Chúa.
134 M'ay fansa ka kaa boro kankami ra, Ay mo ga laakal da ni dondonandiyaŋey k'i gana.
135Xin hãy làm cho mặt Chúa soi sáng trên kẻ tôi tớ Chúa, Và dạy tôi các luật lệ Chúa.
135 Ma naŋ ni moyduma ma hanan ay, ni tamo gaa, M'ay dondonandi ni hin sanney.
136Những suối lệ chảy từ mắt tôi, Bởi vì người ta không giữ luật pháp của Chúa.
136 Ay moy goono ga mundi dooru sanda gooru cine, Zama i mana laakal da ni asariya k'a te.
137Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài là công bình, Sự đoán xét của Ngài là ngay thẳng.
137 Ya Rabbi, ni ya adilitaraykoy no, Ni ciitey mo ga kay no.
138Chúa lấy sự công bình, sự thành tín, Mà truyền ra chứng cớ của Chúa.
138 Ni na ni seedey lordi adilitaray da naanay koonu ra.
139Sự sốt sắng tiêu hao tôi, Vì kẻ hà hiếp tôi đã quên lời Chúa.
139 Ay anniya n'ay ŋwa, Zama ay ibarey dinya ni sanney gaa.
140Lời Chúa rất là tinh sạch, Nên kẻ tôi tớ Chúa yêu mến lời ấy.
140 Ni sanno ga hanan gumo, A se no ay, ni tamo ga ba r'a.
141Tôi nhỏ hèn, bị khinh dể, Nhưng không quên các giềng mối Chúa.
141 Ay ya zanka no kaŋ i ga donda, Amma ay si dinya ni dondonandiyaŋey gaa.
142Sự công bình Chúa là sự công bình đời đời, Luật pháp Chúa là chơn thật.
142 Ni adilitara ya hal abada adilitaray no, Ni asariya mo cimi no.
143Sự gian truân và sự sầu khổ áp hãm tôi; Dầu vậy, các điều răn Chúa là điều tôi ưa thích.
143 Azaaba nda taabi du ay, Amma ni lordey no ga ti ay kaani maayaŋo.
144Chứng cớ Chúa là công bình đời đời. Xin hãy ban cho tôi sự thông hiểu, thì tôi sẽ được sống.
144 Ni seedey ya adilitaraykoyyaŋ no hal abada, M'ay no fahamay zama ay ma funa.
145Hỡi Ðức Giê-hô-va, tôi hết lòng kêu cầu Ngài; xin hãy đáp lại tôi; Tôi sẽ gìn giữ luật lệ Ngài.
145 Ay bina kulu no ay ce d'a. Ya Rabbi, ma tu ay se. Ay ga ni hin sanney haggoy k'i gana.
146Tôi đã kêu cầu Chúa; xin hãy cứu tôi, Thì tôi sẽ giữ các chứng cớ Chúa.
146 Ay na ni ce, m'ay faaba! Ay mo, ay ga goy da ni seedey.
147Tôi thức trước rạng đông và kêu cầu; Tôi trông cậy nơi lời Chúa.
147 Ay na mo boyaŋ jin ay goono ga jinde daŋ ka gaakasinay ŋwaaray. Ay na bine sinji ni sanno gaa.
148Canh đêm chưa khuya, mắt tôi mở tỉnh ra, Ðặng suy gẫm lời Chúa.
148 Hala cin alwaatey ga furo, kulu ay moy ga hay, Zama ay ma ni sanno miila.
149Hỡi ÐṀ©c Giê-hô-va, theo sự nhơn từ Ngài, xin hãy nghe tiếng tôi; Hãy khiến tôi được sống tùy mạng lịnh Ngài.
149 Ya Rabbi, ma maa ay jinda ni baakasinay suujo boŋ, M'ay funandi mo ni farilley boŋ.
150Những kẻ đeo đuổi sự dữ đến gần; Chúng nó cách xa luật pháp của Chúa.
150 Laala ganakoy goono ga maan ka kaa, Day i ga mooru ni asariya.
151Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài ở gần; Các điều răn Ngài là chơn thật.
151 Ya Rabbi, ni ga maan. Ni lordey kulu mo cimiyaŋ no.
152Cứ theo chứng cớ Chúa Tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời.
152 Za doŋ ay bay ni seedey gaa, Ni n'i sinji no hal abada.
153Xin hãy xem nỗi khổ nạn tôi, và giải cứu tôi; Vì tôi không quên luật pháp của Chúa.
153 Ma laakal ye ay kankamo gaa. M'ay faaba mo, zama ay si dinya ni asariya gaa.
154Xin hãy binh vực duyên cớ tôi, và chuộc tôi; Cũng hãy khiến tôi được sống tùy theo lời Chúa.
154 M'ay gaa ay kalima ra, k'ay fansa*. M'ay funandi ni sanno boŋ.
155Sự cứu rỗi cách xa kẻ ác, Vì chúng nó không tìm hỏi các luật lệ Chúa.
155 Faaba ga mooru laalakoyey, Zama i siino ga ni hin sanney ceeci.
156Ðức Giê-hô-va ơi, sự thương xót Ngài rất lớn; Xin hãy khiến tôi được sống tùy theo luật lệ Ngài.
156 Ya Rabbi, ni bakarawo ga beeri, M'ay funandi ni farilley boŋ.
157Kẻ bắt bớ và kẻ hà hiếp tôi thật nhiều lắm; Nhưng tôi không xây bỏ chứng cớ Chúa.
157 Borey kaŋ yaŋ g'ay gurzugandi d'ay yanjekaarey ga baa. Kulu nda yaadin ay mana kamba ka ni seedey naŋ.
158Tôi thấy kẻ gian tà, bèn gớm ghiếc chúng nó; Vì chúng nó không giữ lời Chúa.
158 Ay na laakal ye ka di naanay feerikoy, Ay n'i fanta mo, zama i mana ni sanno gana.
159Xin hãy xem tôi yêu mến giềng mối Chúa dường bao! Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin hãy khiến tôi được sống tùy sự nhơn từ Ngài.
159 Guna ka di mate kaŋ ay ga ba ni dondonandiyaŋey! Ya Rabbi, m'ay funandi ni baakasinay suujo boŋ.
160Sự tổng cộng lời Chúa là chơn thật, Các mạng lịnh công bình của Chúa còn đời đời.
160 Ni sanni timmanta wo cimi no. Ni ciiti adilitaraykoyey mo, I afo kulu ga tondo hal abada.
161Những vua chúa đã bắt bớ tôi vô cố, Song lòng tôi kính sợ lời Chúa.
161 Bonkooney n'ay gurzugandi sabaabu kulu si, Amma ni sanney dambara no g'ay bina di.
162Tôi vui vẻ về lời Chúa, Khác nào kẻ tìm được mồi lớn.
162 Ay ga farhã ni sanno sabbay se, Sanda boro kaŋ du wongu arzaka boobo farhã cine.
163Tôi ghét, tôi ghê sự dối trá, Song tôi yêu mến luật pháp Chúa.
163 Ay ga konna tangari, ay n'a fanta mo, Amma ay ga ba ni asariya.
164Mỗi ngày tôi ngợi khen Chúa bảy lần, Vì cớ mạng lịnh công bình của Chúa.
164 Sorro iyye no ay ga ni sifa zaari folloŋ ra, Ni farilla adilitaraykoyey sabbay se.
165Phàm kẻ nào yêu mến luật pháp Chúa được bình yên lớn; Chẳng có sự gì gây cho họ sa ngã.
165 Laakal kanay boobo go no ni asariya baakoy se, Hay kulu s'i naŋ i ma harta.
166Hỡi Ðức Giê-hô-va, tôi có trông cậy nơi sự cứu rỗi của Ngài. Và làm theo các điều răn Ngài.
166 Ya Rabbi, ay na bine sinji ni faaba gaa, Ay na ni lordey goyey te mo.
167Linh hồn tôi đã gìn giữ chứng cớ Chúa. Tôi yêu mến chứng cớ ấy nhiều lắm.
167 Ay bina na laakal daŋ ni seedey gaa, Oho, ay ga ba r'ey gumo.
168Tôi có gìn giữ giềng mối và chứng cớ Chúa, Bởi vì đường lối tôi đều ở trước mặt Chúa.
168 Ay laakal da ni dondonandiyaŋey da ni seedey, Zama ay muraadey kulu go ni jine.
169Hỡi Ðức Giê-hô-va, nguyện tiếng kêu của tôi thấu đến Ngài. Xin hỡi ban cho tôi sự thông sáng tùy theo lời Chúa.
169 Ya Rabbi, naŋ ay hẽeno ma maan ka to ni jine. M'ay no fahamay ni sanno boŋ.
170Nguyện lời cầu khẩn tôi thấu đến trước mặt Chúa; Xin hãy giải cứu tôi tùy theo lời Chúa.
170 Ay ŋwaara ma kaa ni jine, M'ay faaba mo ni sanno boŋ.
171Nguyện môi miệng tôi đồn ra sự ngợi khen Chúa; Vì Chúa dạy tôi các luật lệ Chúa.
171 Ay meyo ma sifaw ci, Zama ni g'ay dondonandi ni hin sanney.
172Nguyện lưỡi tôi hát xướng về lời Chúa; Vì hết thảy điều răn Chúa là công bình.
172 Ay deena ma ni sanno baytu te, Zama ni lordey kulu ya adilitaraykoyyaŋ no.
173Nguyện tay Chúa sẵn giúp đỡ tôi; Vì tôi chọn các giềng mối Chúa.
173 Ni kamba ma goro nda ay gaayaŋ soola, Zama ay na ni dondonandiyaŋey suuban.
174Hỡi Ðức Giê-hô-va, tôi mong ước sự cứu rỗi của Chúa; Luật pháp Chúa là sự tôi ưa thích.
174 Ya Rabbi, ay goono ga yalla-yalla nda ni faaba, Ni asariya mo ay kaani maayaŋ no.
175Nguyện linh hồn tôi được sống, thì nó sẽ ngợi khen Chúa; Nguyện mạng lịnh Chúa giúp đỡ tôi.
175 Ay fundo ma funa, a ga ni sifa mo, Ni farilley mo m'ay gaa.
176Tôi xiêu lạc khác nào con chiên mất: Xin hãy tìm kiếm kẻ tôi tớ Chúa, Vì tôi không quên điều răn của Chúa.
176 Ay daray sanda feeji kaŋ daray cine. Ma ay, ni tamo ceeci, zama ay si dinya ni lordey gaa.