Vietnamese 1934

Zarma

Psalms

129

1Từ khi tôi còn thơ ấu, chúng nó thường hà hiếp tôi, Y-sơ-ra-ên đáng nói,
1 Zijiyaŋ dooni no. «Sorro marge no i n'ay taabandi za ay zankatara waate!» Israyla ma ci ka ne:
2Từ khi tôi còn thơ ấu, chúng nó thường hà hiếp tôi, Nhưng không thắng hơn tôi được.
2 «Sorro marge no i n'ay taabandi za ay zankatara waate. Kulu nda yaadin i mana te ay boŋ zaama.
3Các nông phu cày trên lưng tôi, Xẻ đường cày mình dài theo trên đó.
3 Alfarey na ngey farmi guwey te ay banda daaro ra, I na ngey bata guwey kuukandi mo.»
4Ðức Giê-hô-va là công bình; Ngài đã chặt những dây kẻ ác.
4 Rabbi ya adilitaraykoy no, A na laalakoyey korfey pati.
5Nguyện những kẻ ghét Si-ôn Bị hổ thẹn và lui lại sau.
5 Borey kulu kaŋ yaŋ si ba Sihiyona ma haaw, I ma bare ka ye banda.
6Nguyện chúng nó như cỏ nơi nóc nhà, Ðã khô héo trước khi bị nhổ;
6 I ma ciya sanda fu boŋ subu kaŋ ga lakaw za a mana beeri.
7Ngươi gặt không nắm đầy tay mình, Kẻ bó không gom đầy ôm mình;
7 Subu wiiko si du ka nga kambe toonandi nd'a, Sanku fa boko hawko m'a ganday.
8Những kẻ lại qua cũng không nói: Nguyện phước Ðức Giê-hô-va giáng trên các ngươi! Chúng ta nhơn danh Ðức Giê-hô-va chúc phước cho các ngươi.
8 Bisako mo si ne: «Rabbi albarka ma goro araŋ boŋ, Iri ga albarka gaara araŋ se Rabbi maa ra.»