Vietnamese 1934

Zarma

Psalms

139

1Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài đã dò xét tôi, và biết tôi.
1 Doonkoy jine bora se. Dawda baytu fo no. Ya Rabbi, ni n'ay fintal, ni n'ay bay mo.
2Chúa biết khi tôi ngồi, lúc tôi đứng dậy; Từ xa Chúa hiểu biết ý tưởng tôi.
2 Ay goray d'ay tunyaŋ kulu, ni g'i bay. Ni n'ay fonguyaŋey bay za nangu mooro.
3Chúa xét nét nẻo đàng và sự nằm ngủ tôi, Quen biết các đường lối tôi.
3 Ni n'ay fonda d'ay kaniyaŋo kulu fintal, Ni n'ay muraadey kulu bay.
4Vì lời chưa ở trên lưỡi tôi, Kìa, hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài đã biết trọn hết rồi.
4 Zama za sanni kulu si no ay deena boŋ, Nin, ya Rabbi, ni n'a kulu bay.
5Chúa bao phủ tôi phía sau và phía trước, Ðặt tay Chúa trên mình tôi.
5 Ni n'ay kali jina nda banda, Ni na ni kambe dake ay boŋ.
6Sự tri thức dường ấy, thật diệu kỳ quá cho tôi, Cao đến đổi tôi không với kịp!
6 Bayray woodin, a dambara bisa ay gaabi. A ga ku, ay si hin ka to a gaa.
7Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa? Tôi sẽ trốn đâu khỏi mặt Chúa?
7 Man no ay ga koy ka fay da ni Biya, Wala man no ay ga zuru ni se ka koy?
8Nếu tôi lên trời, Chúa ở tại đó, Ví tôi nằm dưới âm-phủ, kìa, Chúa cũng có ở đó.
8 D'ay kaaru ka koy hala beena ra, ni go noodin. D'ay n'ay daarijo daaru Alaahara, noodin mo ni go no.
9Nhược bằng tôi lấy cánh hừng đông, Bay qua ở tại cuối cùng biển,
9 D'ay na mo boyaŋ fata sambu hala ay ma koy ka goro teeko ya-haray meyo gaa,
10Tại đó tay Chúa cũng sẽ dẫn dắt tôi, Tay hữu Chúa sẽ nắm giữ tôi.
10 Hala noodin bumbo ni kambe g'ay candi, Ni kambe ŋwaari g'ay gaay.
11Nếu tôi nói: Sự tối tăm chắc sẽ che khuất tôi, Ánh sáng chung quanh tôi trở nên đêm tối,
11 D'ay ne: «Daahir kubay no g'ay daabu, Hananyaŋo kaŋ go ay windanta mo ga ciya cin.»
12Thì chính sự tối tăm không thể giấu chi khỏi Chúa, Ban đêm soi sáng như ban ngày, Và sự tối tăm cũng như ánh sáng cho Chúa.
12 Kubay bumbo manti kubay no ni se, Cin mo ga kaari sanda zaari cine. Kubay da kaari, i kulu afolloŋ no ni se.
13Vì chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, Dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi.
13 Zama ay taka kulu, nin no k'a te. Ni n'ay dabu-dabu za ay nyaŋo gunde ra.
14Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng. Công việc Chúa thật lạ lùng, lòng tôi biết rõ lắm.
14 Ay ga saabu ni se, Zama ay teeyaŋo ya humburkumay hari no, Haŋ kaŋ ga dambarandi mo no. Ni goyey ga dambarandi, Woodin mo ay bina n'a bay gumo.
15Khi tôi được dựng nên trong nơi kín, Chịu nắn nên cách xảo lại nơi thấp của đất, Thì các xương cốt tôi không giấu được Chúa.
15 Ay biriyey manti tugante no ni se, Waato kaŋ i n'ay te tuguyaŋ ra, Waato kaŋ i n'ay cina nda gonitaray ndunnya guusuyaŋey ra.
16Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của tôi; Số các ngày định cho tôi, Ðã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy.
16 Ni moy go ga di ay za ay go kuri gude. Jirbey kaŋ ni waadu ay se mo, ni n'i kabu, I n'i kulu hantum ni tira ra, Za waati kaŋ baa afo mana te jina.
17Hỡi Ðức Chúa Trời, các tư tưởng Chúa quí báu cho tôi thay! Số các tư tưởng ấy thật lớn thay!
17 Ya Irikoy, man ni miiley darza misa ay se! Man i kabuyaŋo baayaŋ misa!
18Nếu tôi muốn đếm các tư tưởng ấy, thì nhiều hơn cát. Khi tôi tỉnh thức tôi còn ở cung Chúa.
18 D'ay g'i kabu, i baa da laabu gurey. Waati kaŋ ay mo hay, hala hõ day ay go ni banda.
19Hỡi Ðức Chúa Trời, Chúa ắt sẽ giết kẻ ác! Hỡi người huyết, hãy đi khỏi ta.
19 Ya Irikoy, doŋ day ni ma boro laaley wi! Ya araŋ borey kaŋ goono ga kuri mun, Wa gana ka fun ay gaa.
20Chúng nó nói nghịch Chúa cách phớm phỉnh, Kẻ thù nghịch Chúa lấy danh Chúa mà làm chơi.
20 Zama i goono ga ni ciine te da laala, Ni ibarey mo goono ga ni maa ce yaamo.
21Hỡi Ðức Giê-hô-va, tôi há chẳng ghét những kẻ ghét Chúa ư? Há chẳng gớm ghiếc những kẻ dấy nghịch Chúa sao?
21 Ya Rabbi, manti ay konna ni konnakoy? Manti ay ga dukur da borey kaŋ yaŋ murte ni gaa?
22Tôi ghét chúng nó, thật là ghét, Cầm chúng nó bằng kẻ thù nghịch tôi.
22 Ay ga konn'ey da konnari toonante, I ciya ay ibareyaŋ.
23Ðức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi; Hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi;
23 Ya Irikoy, ni m'ay fintal k'ay bina bay. M'ay neesi, k'ay fonguyaŋey bay.
24Xin xem thử tôi có lối ác nào chăng, Xin dắt tôi vào con đường đời đời.
24 Ma guna ka di hala laala fondo fo go no ay do, Ma jine candi ay se mo hal abada fonda ra.