Vietnamese 1934

Zarma

Psalms

40

1Tôi nhịn nhục trông đợi Ðức Giê-hô-va, Ngài nghiêng qua nghe tiếng kêu cầu của tôi.
1 Doonkoy jine bora se. Dawda baytu fo no.
2Ngài cũng đem tôi lên khỏi hầm gớm ghê, Khỏi vũng bùn lấm; Ngài đặt chơn tôi trên hòn đá, Và làm cho bước tôi vững bền.
2 Suuru no ay ga hangan d'a Rabbi se, A na hanga jeeri ka maa ay se, a maa ay hẽeno mo.
3Ngài để nơi miệng tôi một bài hát mới, Tức là sự ngợi khen Ðức Chúa Trời chúng tôi. Lắm người sẽ thấy điều đó, bắt sợ, Và nhờ cậy nơi Ðức Giê-hô-va.
3 A n'ay soolam ka kaa halacandiyaŋ guuso ra, Tibi botogo laalo ra. A n'ay cey sinji tondi daari boŋ, A n'ay taamuyaŋey mo kayandi.
4Phước cho người nào để lòng tin cậy nơi Ðức Giê-hô-va, Chẳng nể vì kẻ kiêu ngạo, hoặc kẻ xây theo sự dối trá!
4 A na baytu taji daŋ ay meyo ra mo, Saabuyaŋ nooya iri Irikoyo se. Boro boobo ga di, i ma humburu, i ma de Rabbi gaa mo.
5Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời tôi, công việc lạ lùng Chúa đã làm, Và những tư tưởng của Chúa hướng cùng chúng tôi, thật là nhiều, Không thể sắp đặt trước mặt Chúa; Nếu tôi muốn truyền các việc ấy ra, và nói đến, Thật lấy làm nhiều quá không đếm được.
5 Albarkante no boro kaŋ na Rabbi te nga deyaŋ hari. A si nga jine ye boŋbeeraykoyey do haray, wala borey kaŋ yaŋ ga kamba tangari do haray.
6Chúa không thích đẹp hi sinh hoặc của lễ chay: Chúa đã sỏ tai tôi. Chúa không có đòi của lễ thiêu hay là của lễ chuộc tội.
6 Ya Rabbi ay Irikoyo, dambara goyey kaŋ ni te, Da ni fongu-fonguyaŋey mo kaŋ ni gonda iri do haray ga baa gumo. Afo kulu si no kaŋ i ga kar ni gaa. Baa d'ay ga ba ay m'i bangandi, ay m'i baaru dede, I bisa lasaabuyaŋ.
7Bấy giờ tôi nói: Nầy tôi đến; Trong quyển sách đã có chép về tôi;
7 Ni si ba sargay da nooyaŋ, Ni n'ay hanga fun. Sargay summaare kaŋ i ga ton, Da zunubi se sargay, ni s'i hã.
8Hỡi Ðức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.
8 Gaa no ay ne: «Ay neeya, ay kaa. I hantum ay boŋ tira kunkunanta ra.
9Trong hội lớn tôi đã truyền tin vui về sự công bình; Kìa, tôi chẳng có ngậm miệng lại, Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài biết điều đó.
9 Ya ay Irikoyo, ay farhã ga ti ni miila teeyaŋo, Daahir, ni asariya go ay bina ra.»
10Tôi chẳng giấu sự công bình Chúa ở nơi lòng tôi; Tôi đã truyền ra sự thành tín và sự cứu rỗi của Chúa; Tôi nào có giấu hội lớn sự nhơn từ và sự chơn thật của Chúa.
10 Ay na adilitaray baaru hanna fe jama marga bambata ra, A go, ay s'ay meyo ganj'a. Ya Rabbi, ni ga bay.
11Ðức Giê-hô-va ôi! đối cùng tôi chớ khép lòng thương xót của Ngài; Nguyện sự nhơn từ và sự chơn thật của Ngài gìn giữ tôi luôn luôn.
11 Ay mana ni adilitara tugu ay bina ra bo, Ay na ni naanayo da ni faaba ci no. Ay mana ni baakasinay suujo da ni cimo daabu jama marga bambata se mo.
12Vì vô số tai họa đã vây quanh tôi; Các gian ác tôi đã theo kịp tôi, Ðến nỗi không thể ngước mắt lên được; Nó nhiều hơn tóc trên đầu tôi, Lòng tôi đã thất kinh.
12 Ya Rabbi, ni s'ay ganji ni bakarawo. Ni baakasinay suujo da ni cimo g'ay haggoy duumi.
13Ðức Giê-hô-va ôi! xin sẵn lòng giải cứu tôi. Hỡi Ðức Giê-hô-va, hãy mau mau giúp đỡ tôi.
13 Zama masiibey kaŋ ga baa da lasaabuyaŋ n'ay windi, Ay taaley mo n'ay to hala ay si hin k'ay boŋ sambu ka beena guna. I baa da ay boŋ hamno, ay bina-gaabo mo gaze.
14Phàm kẻ nào tìm giết mạng sống tôi, Nguyện chúng nó bị mất cỡ và hổ thẹn cả; Phàm kẻ nào vui vẻ về sự thiệt hại tôi, Nguyện chúng nó phải lui lại và bị sỉ nhục.
14 Ya Rabbi, ma yadda k'ay kaa kambe. Ya Rabbi, ma cahã k'ay gaakasinay.
15Các kẻ nói về tôi: Ha, ha! Nguyện chúng nó vị sững sờ vì cớ sự sỉ nhục của chúng nó.
15 Borey kaŋ yaŋ g'ay fundo ceeci zama ngey m'a halaci se, Naŋ i ma haaw, i boŋ ma haw me folloŋ. Ngey kaŋ yaŋ ga farhã nd'ay hasarawo, Naŋ i ma bare ka ye banda ka kayna haŋ.
16Nguyện hết thảy những kẻ tìm cầu Chúa, Ðược vui vẻ và khoái lạc nơi Chúa; Nguyện những người yêu mến sự cứu rỗi của Chúa, Hằng nói rằng: Ðức Giê-hô-va đáng tôn đại thay?
16 Ngey kaŋ ga ne ay se: «Ahãa! Ahãa!» Naŋ i ma dangay siw i haawo sabbay se,
17Còn tôi là khốn cùng và thiếu thốn; Dầu vậy, Chúa tưởng đến tôi. Chúa là sự tiếp trợ tôi, và là Ðấng giải cứu tôi. Ðức Chúa Trời tôi ôi! xin chớ trễ hưỡn.
17 Borey kaŋ yaŋ ga ni ceeci kulu ma te bine kaani da farhã ni do. Ngey kaŋ yaŋ ga ba ni faaba ma soobay ka ne: «Wa Rabbi beerandi!»
18 Ay wo taabante no kaŋ gonda laami, Kulu nda yaadin Koy Beero ga fongu ay gaa. Ni ga ti ay gaakasina d'ay faabakwa mo. Ya ay Irikoyo, ma si gay!