1Hỡi Ðức Chúa Trời, tại Si-ôn người ta mong đợi ngợi khen Chúa; Họ sẽ trả sự hứa nguyện cho Chúa.
1 Doonkoy jine bora se. Dawda baytu fo no kaŋ a doon.
2Hỡi Ðấng nghe lời cầu nguyện, Các xác thịt đều sẽ đến cùng Ngài.
2 Ya Irikoy, sifaw ga hagu ni se dangayyaŋ ra Sihiyona ra. Ni do mo no borey ga sarti toonandi.
3Sự gian ác thắng hơn tôi: Còn về sự vi phạm chúng tôi, Chúa sẽ tha thứ cho.
3 Ya nin adduwa maakwa, ni do no fundikooney kulu ga kaa.
4Phước thay cho người mà Chúa đã chọn và khiến đến gần, Ðặng ở nơi hành lang Chúa: Chúng tôi sẽ được no nê vật tốt lành của nhà Chúa, Là đền thánh của Ngài.
4 Taali teeyaŋ muraadey te zaama ay boŋ. Day iri hartayaŋey, ni g'i tuusu.
5Hỡi Ðức Chúa Trời về sự cứu rỗi chúng tôi, Chúa sẽ lấy việc đáng sợ mà đáp lại chúng tôi theo sự công bình; Chúa là sự tin cậy của các cùng tột trái đất, và của kẻ ở trên biển xa.
5 Albarkante no boro kaŋ ni suuban, Nga kaŋ ni daŋ a ma maan ka kaa ni do, Zama a ma goro ni windi batamey ra. Ni windi gomno, kaŋ ga ti ni fu hananta ga wasa iri se.
6Chúa dùng quyền năng mình lập các núi vững chắc, Vì Chúa được thắt lưng bằng sức lực;
6 Ya Irikoy, iri faaba wano, Nin kaŋ ci deyaŋ hari ndunnya me-a-me se, da ngey mo kaŋ yaŋ go teeko boŋ nangu mooro se. Muraaduyaŋ kaŋ ga dambarandi no ni ga tu d'a iri se adilitaray ra,
7Chúa dẹp yên sự ầm ầm của biển, sự ồn ào của sóng nó, Và sự xao động của các dân.
7 Nin no ga tondi beerey sinji nda ni gaabo, I na ni guddu nda hin.
8Những kẻ ở nơi đầu cùng trái đất Thấy phép kỳ của Chúa, bèn sợ hãi; Chúa khiến buổi hừng đông và buổi chạng vạng mừng rỡ.
8 Teekoy kosongo d'i hari bondayey, Da ndunnya dumey kosongey, ni ya i kanandiko no,
9Chúa thăm viếng đất, và tưới ướt nó, Làm cho nó giàu có nhiều; Suối Ðức Chúa Trời đầy nước. Khi Chúa chế đất, thì sắm sửa ngũ cốc cho loài người.
9 Nangu moorey me gorokoy go ga humburu ni alaamey sabbay se. Ni ga naŋ wayna funay haray da wayna kaŋay haray ma cilili farhã sabbay se.
10Chúa tưới các đường cày nó, làm cục đất nó ra bằng, Lấy mưa tẩm nó cho mềm, và ban phước cho huê lợi của nó.
10 Ni ga laabu kunfa, ni g'a haŋandi hari, Ni g'a yulwandi mo gumo. Irikoy gooro go toonante nda hari. Ni ga ntaaso kaa taray i se, Zama yaadin no ni na laabo soola nd'a.
11Chúa lấy sự nhơn từ mình đội cho năm làm mão triều; Các bước Chúa đặt ra mỡ.
11 Ni g'a batey no hari boobo, Ni g'a bata guwey bagu ka say, Ni g'a leema nda buru hari, Ni ga albarka daŋ a buzugey gaa mo.
12Các bước Chúa đặt ra mỡ trên đồng cỏ của đồng vắng, Và các nổng đều thắt lưng bằng sự vui mừng.
12 Ni na jiiro kunga nda ni gomno, Ni fondey go ga maafe tolli-tolli.
13Ðồng cỏ đều đầy bầy chiên, Các trũng được bao phủ bằng ngũ cốc; Khắp nơi ấy đều reo mừng, và hát xướng.
13 Saaji kuray nangey goono ga tolli-tolli. Tudu izey mo, farhã na i windi.
14 I ga kuray nangey daabu nda feeji kuruyaŋ, Goorey batamey mo ga daabu nda ntaasu. I go ga cilili farhã sabbay se, oho, i go ga baytu.