Vietnamese 1934

Zarma

Psalms

7

1Hỡi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời tôi, tôi nương náu mình nơi Ngài; Xin hãy cứu tôi khỏi kẻ rượt đuổi tôi, và thoát giải tôi,
1 Dawda hẽeno kaŋ a te baytu Rabbi se, Benyamin bora Kus boŋ.
2Kẻo kẻ thù nghịch xé tôi như con sư tử, Và phân tôi từ mảnh, không ai giải cứu cho.
2 Ya Rabbi ay Irikoyo, ni do no ay ga tuguyaŋ do ceeci. M'ay faaba, M'ay soolam ka kaa ay gaaraykoy kulu kambe.
3Hỡi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời tôi, nhược bằng tôi đã làm điều ấy, Và có sự gian ác nơi tay tôi;
3 Zama i ma s'ay kortu-kortu sanda muusu beeri cine kaŋ ga tooru-tooru, faabako mo si.
4Nếu tôi đã trả ác cho người ở hòa hảo cùng tôi, Và cướp lột kẻ hiếp tôi vô cớ,
4 Ya Rabbi, ay Irikoyo, hala day ay na woone yaŋ te no: Da day laala go ay kambe ra,
5Thì đáng cho kẻ thù nghịch đuổi theo tôi kịp Giày đạp mạng sống tôi dưới đất, Và làm rạp vinh hiển tôi xuống bụi đất.
5 Wala ay bana ay naanay bora gaa da goy laalo, Wala ay n'ay yanjekaaro zamba sabaabu kulu si --
6Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin hãy nổi thạnh nộ mà chổi dậy; Hãy dấy nghịch cùng sự giận hoảng của kẻ hiếp tôi; Khá tỉnh thức mà giúp đỡ tôi; Ngài đã truyền định sự đoán xét rồi.
6 Naŋ ay ibara m'ay fundo kankam da gaarayyaŋ kal a m'a di. Naŋ a m'ay fundo taamu ganda, A m'ay darza mutukuru bulungu ra. (Wa dangay)
7Hội các dân tộc sẽ vây phủ từ phía Ngài; Còn Ngài vì chúng phải trở lên cao.
7 Ya Rabbi, ma tun ni futa ra, Ma tun ka kay ka gaaba nda ay yanjekaarey futa. Ma mo hay ay sabbay se, ma cimi ciiti te.
8Ðức Giê-hô-va đoán xét các dân. Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin hãy đoán xét tôi theo sự công bình tôi, Và theo sự thanh liêm ở nơi lòng tôi.
8 Dumey marga ma ni windi, Ni ma ye beene ka kaaru i boŋ.
9Ồ, Ðức Chúa Trời công bình! là Ðấng dò xét lòng dạ loài người, Xin hãy khiến cùng tận sự gian ác kẻ dữ, Song hãy làm cho vững vàng người công bình.
9 Rabbi ga ciiti te ndunnya dumey se. Ya Rabbi, ma ciiti te ay se ay adilitara hino me, Da hananyaŋo kaŋ go ay se me mo.
10Ðức Chúa Trời là cái khiên tôi, Ngài là Ðấng cứu rỗi những kẻ có lòng ngay thẳng.
10 Naŋ laalakoyey laala ma ban, Amma ni ma adilantey tabbatandi. Zama Irikoy ya adilitaraykoy no, A ga bine da nga gundu neesi.
11Ðức Chúa Trời là quan án công bình, Thật là Ðức Chúa Trời hằng ngày nổi giận cùng kẻ ác.
11 Ay korayo go Irikoy do, Nga kaŋ ga bine ra adilantey faaba.
12Nếu kẻ ác không hối cải, thì Ðức Chúa Trời sẽ mài gươm: Ngài đã giương cung mà chực cho sẵn,
12 Irikoy ya adilitaray ciitiko no. Oho, Irikoy ga dukur han kulu.
13Cũng đã vì nó sắm sửa khí giới làm chết, Và làm những tên Ngài phừng lửa.
13 Da boro mana bare ka tuubi, kala Irikoy ma nga takuba kaanandi. A ma haw daŋ nga birawo ra mo.
14Kìa, kẻ dữ đương đẻ gian ác; Thật nó đã hoài thai sự khuấy khỏa, và sanh điều dối trá.
14 A na buuyaŋ wongu jinayyaŋ soola a se. A na nga hangawey ciya danjikoyyaŋ.
15Nó đào một hố sâu, Nhưng lại té vào hố nó đã đào.
15 Guna, boro ga hay-zaŋay da laala. Oho, a ga zamba gunde sambu ka tangari hay.
16Sự khuấy khỏa nó đã làm sẽ đổ lại trên đầu nó. Và sự hung hăng nó giáng trên trán nó.
16 A na guusu soola, a n'a fansi. A kaŋ guusu hirrimo kaŋ a te din ra.
17Tôi sẽ ngợi khen Ðức Giê-hô-va y theo sự công bình Ngài, Và ca tụng danh Ðức Giê-hô-va là Ðấng Chí cao.
17 A zamba ga ye a bumbo boŋ. A toonya mo ga zumbu a boŋ bindo ra.
18 Ay ga saabu Rabbi se a adilitara boŋ. Ay ga sifayaŋ baytu te Rabbi kaŋ bisa ikulu maa gaa.