Vietnamese 1934

Kekchi

Psalms

22

1Ðức Chúa Trời tôi ôi! Ðức Chúa Trời tôi ôi! sao Ngài lìa bỏ tôi? Nhơn sao Ngài đứng xa, không giúp đỡ tôi, và chẳng nghe lời rên siết tôi?
1At inYucuaß, at inDios, ¿cßaßut nak xinâcanab injunes? Cuanquin saß jun rahil chßôlejil ut xintzßâma intenkßanquil châcuu. Ut incßaß xinâsume.
2Ðức Chúa Trời tôi ôi! tôi kêu cầu ban ngày, nhưng Chúa chẳng đáp lại; Ban đêm cũng vậy, song tôi nào có được an nghỉ đâu
2At inDios, chi kßek chi cutan ninyâba lâ cßabaß ut incßaß niquinâcuabi. Incßaß ninhilan chi tzßâmânc châcuu ut lâat incßaß niquinâsume.
3Còn Chúa là thánh, Ngài là Ðấng ngự giữa sự khen ngợi của Y-sơ-ra-ên.
3Lâat santo. Nim lâ cuanquilal ut lokßoninbilat xbaneb laj Israel.
4Tổ phụ chúng tôi nhờ cậy nơi Chúa, Họ nhờ cậy Chúa bèn giải cứu cho.
4Li kaxeßtônil yucuaß queßxcßojob xchßôl âcuiqßuin. Queßxpâb nak lâat tâcoleb ut lâat catenkßaheb.
5Họ kêu cầu cùng Chúa, và được giải cứu; Họ nhờ cậy nơi Chúa, không bị hổ thẹn.
5Queßxtzßâma xtenkßanquil âcue ut lâat cacoleb. Cauheb xchßôl âcuiqßuin. Incßaß quichßinan xchßôleb xban nak lâat cabânu li cayechißi reheb.
6Nhưng tôi là một con trùng, chớ chẳng phải người đâu, Là điều ô nhục của loài người, và vật khinh dể của dân sự.
6Chiruheb li tenamit chanchan li mâcuaßin chic cristian. Chanchanin chic li motzoß chiruheb. Tzßektânanbilin xbaneb ut xicß niquineßril.
7Hễ kẻ nào thấy tôi đều nhạo cười tôi. Trề môi, lắc đầu, mà rằng:
7Chixjunileb nequeßxbitzß li reheb nak niquineßril. Niquineßretzßu ut nequeßrecßasi lix jolomeb.
8Người phú thác mình cho Ðức Giê-hô-va, Ngài khá giải cứu người; Ngài khá giải cứu người, vì Ngài yêu mến người!
8Ut nequeßxye: —Cui lâat cau âchßôl riqßuin lâ Dios, ¿cßaßut nak incßaß nacatxcol? Cui kßaxal nacatxra, ¿cßaßut nak incßaß nacatxtenkßa? chanqueb cue.
9Phải, ấy là Chúa rút tôi khỏi lòng mẹ, Khiến tôi tin cậy khi nằm trên vú của mẹ tôi.
9Abanan ninnau nak lâat nacattenkßan cue, at inDios, xban nak lâat xatqßuehoc cue chi yoßlâc ut xaqßue inyußam. Nak toj yôquin chi tußuc, lâat xat-iloc cue.
10Từ trong tử cung tôi đã được giao cho Chúa; Chúa là Ðức Chúa Trời tôi từ khi tôi lọt lòng mẹ.
10Chalen saß inyoßlajic, cau inchßôl âcuiqßuin. Nak toj mâjiß ninyoßla, ac lâat ajcuiß chak lin Dios.
11Xin chớ đứng xa tôi, vì sự gian truân hầu gần, Chẳng có ai tiếp cứu cho.
11At inYucuaß, at inDios, minâcanab injunes, xban nak châlc re jun raylal saß inbên ut mâ ani natenkßan cue.
12Có nhiều bò đực bao quanh tôi, Những bò đực hung mạnh của Ba-san vây phủ tôi.
12Eb li xicß nequeßiloc cue, sutsûquin xbaneb. Chanchaneb li qßuila toro. Chanchaneb li joskß aj toro li nequeßchal chak saß li naßajej Basán.
13Chúng nó hả miệng ra cùng tôi, Khác nào sư tử hay cắn xé và gầm hét.
13Teßraj xbânunquil raylal cue. Chanchaneb li cakcoj nak nequeßxjap re ut teßraj tißoc.
14Tôi bị đổ ra như nước, Các xương cốt tôi đều rời rã; Trái tim tôi như sáp, Tan ra trong mình tôi.
14Yô chi osocß lin metzßêu. Chanchan li haß li yô chi hoyecß. Chanchan nak mâcßaß chic saß xnaßaj lin bakel. Chanchan yô chi haßocß li cuâm joß nak nahaßoß li cera.
15Sức lực tôi khô như miếng gốm, Và lưỡi tôi dính nơi ổ gà; Chúa đã để tôi nằm trong bụi tro sự chết.
15X-osoß lin metzßêu. Mâcßaß chic nin-oc cuiß. Chanchanin aj chic li xcßaj têx mâcßaß chic xcßanjel. Xletz rib li rußuj cuakß saß cue xban li chaki el. Lâat xinâcanab chi câmc ut xinâcanab chi poksocß.
16Vì những chó bao quanh tôi, Một lũ hung ác vây phủ tôi; Chúng nó đâm lủng tay và chơn tôi;
16Li incßaß useb xnaßleb li yôqueb chixbânunquil raylal cue, chanchaneb jun chßûtal chi joskß aj tzßiß teßraj tißoc. Xeßxhop li cuok ut xeßxhop li cuukß.
17Tôi đếm được các xương tôi. Chúng nó xem và ngó chơn tôi;
17Naru rajlanquil lin bakel. Chixjunileb yôqueb chincaßyanquil ut incßaß nequeßxcanab cuilbal.
18Chúng nó chia nhau áo xống tôi, Bắt thăm về áo dài tôi.
18Xeßxbûli rix li cuakß ut xeßxjeqßui chirixeb.
19Ðức Giê-hô-va ôi! chớ đứng xa tôi; Hỡi Ðấng cứu tiếp tôi ôi! hãy mau mau đến giúp đỡ tôi.
19Abanan lâat, at Kâcuaß, minâcanab injunes. Chinâtenkßa ban, at Kâcuaß, xban nak caßaj cuiß âcuiqßuin cau inchßôl.
20Hãy giải cứu linh hồn tôi khỏi gươm, Và mạng sống tôi khỏi loài chó.
20Chinâcol, at Kâcuaß, re nak incßaß tineßxcamsi riqßuin lix chßîchßeb. Chinâcol chiruheb xban nak eb aßan chanchaneb li joskß aj tzßiß.
21Hãy cứu tôi khỏi họng sư tử, Từ các sừng của trâu rừng, Chúa đã nhậm lời tôi.
21Chinâcol chiruheb li xicß nequeßiloc cue. Eb aßan chanchaneb li cakcoj. Chinâcol chiruheb aßan xban nak chanchaneb li joskß aj toro teßraj inxekßbal.
22Tôi sẽ rao truyền danh Chúa cho anh em tôi, Và ngợi khen Chúa giữa hội chúng.
22Tinserakßi lâ cuesilal yalak bar reheb chixjunileb li cuech tenamitil. Tinqßue âlokßal chiruheb li nequeßxchßutub ribeb châlokßoninquil.
23Hỡi các người kính sợ Ðức Giê-hô-va, hãy ngợi khen Ngài; Ớ hết thảy dòng dõi Y-sơ-ra-ên, hãy kính sợ Ngài;
23Cheqßuehak xlokßal li Kâcuaß chêjunilex lâex li nequexucua ru li Dios. Chenima ru li Kâcuaß, lâex laj Israel, li ralal xcßajolex laj Jacob. Chexucua ru li Kâcuaß.
24Vì Ngài không khinh bỉ, chẳng gớm ghiếc sự hoạn nạn của kẻ khốn khổ, Cũng không giấu mặt Ngài cùng người; Nhưng khi người kêu cầu cùng Ngài, thì bèn nhậm lời.
24Li Kâcuaß incßaß naxtzßektâna li cuan saß raylal. Aßan naxnau nak kßaxal ra yô chixcßulbal. Incßaß naxcanab yal chi joßcan. Aßan junelic narabi li ani naxpatzß xtenkßanquil re.
25Sự ngợi khen của tôi tại giữa hội lớn do Chúa mà ra; Tôi sẽ trả xong sự hứa nguyện tôi trước mặt những kẻ kính sợ Chúa.
25Chiruheb chixjunileb lâ cualal âcßajol tinqßue âlokßal. Ut chiruheb chixjunileb li nacateßxlokßoni tinqßue li xinyechißi âcue.
26Kẻ hiền từ sẽ ăn và được no nê; Những người tìm Ðức Giê-hô-va sẽ ngợi khen Ngài; Nguyện lòng các ngươi được sống đời đời.
26Eb li mâcßaß cuan reheb teßcuaßak chi us ut teßnujak xsaßeb. Cheßxlokßonihak li Kâcuaß ut cheßcuânk xyußameb chi junelic.
27Bốn phương thế gian sẽ nhớ và trở lại cùng Ðức Giê-hô-va; Các họ hàng muôn dân sự thờ lạy trước mặt Ngài.
27Chixjunileb li tenamit jun sut rubel choxa teßjulticokß li Dios reheb ut teßxcuikßib ribeb chiru. Saß chixjunil li ruchichßochß aß yal bar xtenamit teßxlokßoni li Kâcuaß.
28Vì nước thuộc về Ðức Giê-hô-va, Ngài cai trị trên muôn dân.
28Li Kâcuaß Dios, aßan li tzßakal Rey ut aßan li kßaxal nim xcuanquil saß xbêneb chixjunileb li tenamit saß ruchichßochß.
29Hết thảy người giàu có thế gian cũng sẽ ăn và thờ lạy; Mọi kẻ trở lại bụi đất, và những kẻ không thế bảo tồn mạng sống mình, Sẽ quì xuống trước mặt Ngài.
29Chixjunileb teßxcuikßib ribeb chiru li Kâcuaß ut teßxlokßoni ru. Teßxlokßoni li Kâcuaß chixjunileb li biomeb ut li rahobtesinbileb joßqueb ajcuiß li câmqueb re. Eb aßan mâcßaß xyußam xjuneseb rib.
30Một dòng dõi sẽ hầu việc Ngài; Người ta sẽ kể dòng dõi ấy là dòng dõi của Chúa.
30Eb li cualal incßajol teßxlokßoni li Kâcuaß ut junelic teßxserakßi resil chiruheb li ralal xcßajoleb li teßcuânk mokon.Tâyehekß ajcuiß resil li Kâcuaß reheb li toj teßyoßlâk mokon ut tâyehekß resil chanru lix tîquilal ut chanru nak quixcol lix tenamit.
31Dòng dõi ấy sẽ đến rao truyền sự công bình của Ngài, Thuật cho dân tộc sẽ sanh ra rằng Ðức Giê-hô-va đã làm việc ấy.
31Tâyehekß ajcuiß resil li Kâcuaß reheb li toj teßyoßlâk mokon ut tâyehekß resil chanru lix tîquilal ut chanru nak quixcol lix tenamit.